BẢN TUYÊN NGÔN VIỆT NAM ĐẠI ĐỒNG (Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa - Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc) TỐ GIÁC LŨ CHÓ VÀNG, CHÓ ĐỎ, CHÓ XANH, CHÓ ĐEN, CHÓ ĐẺ!

Chúng mày thiểu năng, thất học, hóa rồ, văn dốt, võ dát. đòi đấu với ta? Bất Biến đấu Vạn Biến, Vạn Biến đấu Bất Biến, Tùy Cơ Ứng Biến...!!!



Lãnh Tụ là Trái Tim của Nhân Loại! Tam Giáo là Gốc của Khoa Học, Phân nhánh là Nôi của Khoa Học!



Chúng mày thì làm gì đủ tuổi và đẳng cấp làm con cháu của tao! Tao là kẻ mà ai cũng biết là ai đấy, khi hợp nhất bộ não! Tao chỉ nhắc nhẹ cho chúng mày nghe: Những người bị chúng mày hại đang đón chúng mày nơi Hình Đường AIDA, tống vào Địa Ngục nơi các con của tao cai quản!



Cái địt cụ tổ mày, lũ lợn chúng mày không biết rằng bố mày dùng Tưởng Xương Trắng (Luôn nghĩ đến quan hệ tình dục với xác chết thối rữa, dòi bọ lúc nhúc, hôi thối kinh khủng khi cơn húng tình xuất hiện), chuyên bế quan diệt dục tạm thời, thẩm thấu Tam Muội, xuyên suốt Bát Nhã Ba La Mật Đa, hiệu lệnh NaTra Thái Tử Liên Hình Cảnh, hội tụ Thập Phương Lượng Tử, Triệu hồi Cuồng Ngạo Tà Vương và Kiêu Hãnh Chánh Hậu, mà chúng mày còn dùng công nghệ Quang Ảnh và định vị từ trường đeo bám phần Ám Ảnh bộ não của tao để dọa ma ah! Nói vui cũng là nói thật nhé! Chúng mày bị dại thì ai cũng biết! Tiêm ngừa Bệnh Dại hay là để bị hành hình Lăng Trì? Chúng mày thực sự thiểu năng trí tuệ! Ngày nào tao cũng gửi Gmail này cho gần 700 tổ chức khắp thế giới, trên thế giới người ta đang tìm kiếm chúng mày thanh lọc rõ chưa bọn dân tộc Choang! Chúng mày cấm Trung Quốc không được dùng Google và Facebook để phong tỏa thông tin, không cho người dân biết là Hiên Viên xuất thế tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, quốc gia Việt Nam, chúng mày chui hết vào bộ máy Công Quyền Hành Chính Sự Nghiệp bên Việt Nam này, lừa đảo mọi người, phong tỏa thông tin với các quốc gia khác dấu giếm Tao chuyển sinh xuất thế, đóng giả Tao ở rất nhiều các quốc gia khác, đợi tao 40 tuổi, khai mở tam minh, phong ấn tao trong tù, bên ngoài đóng giả tao, bôi nhọ tao, nói xấu tao, giật dây tao, chúng mày tưởng là chúng mày phong tỏa được thông tin giữa tao và gia đình tao hả lũ lợn? Bố mày không thèm nói thôi! Chắc là chúng mày dùng công an ra chỗ thằng Đức Nha (phó phòng kế hoạch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hạ Long), và thằng Cường (Hành Chính Công) vì tao đã gửi gmail cho chúng nó, chúng mày huyên thuyên bát đảo nói xấu tao, khác gì chúng mày nói xấu tao với ông già tao và các em của tao, khi tao mới về, cái gì là ảnh hưởng đến an ninh mạng hả lũ dở hơi? Chúng mày thừa biết tao là Chuyên Gia Tin Học, Hack hiếc các kiểu bố mày biết hết, bố mày là thằng đi đầu trong lĩnh vực Công Nghệ Thông Tin ở thành phố Hạ Long này hơn 20 năm trước rõ chưa, bố mày cũng là Chuyên Gia về lĩnh vực âm thanh hình ảnh đồ họa máy tính, ngày trước suốt ngày kiếm cơm các kiểu chiêu trò bằng cái nghề tay trái này, nên chúng mày dẹp hộ tao các trò phân tích âm thanh của tao bằng máy tính rồi đóng giả âm thanh của tao đi! Dẹp mẹ chúng mày mấy cái trò hề dùng công nghệ lừa đảo mọi người ấy đi! Một lần nữa nhắc lại :Bố mày bị câm! Rõ chưa? Và điều này nữa mà chúng biết rõ nhất, kiểu gì thì kiểu, thanh lọc xong, Ta sẽ Đăng Cơ lên Ngai Hiên Viên! Lời ta nói là mãi mãi với thời gian....!



Bọn này là bọn CẶN TÍNH thanh lọc từ Công Giáo, bọn XẤU TÍNH thanh lọc từ Xa Giáo, bọn HÈN TÍNH thanh lọc từ Hồi Giáo. Chúng nó là những THÚ TỔ của Công Giáo, những XÚC TẠ của Xa Giáo, những VÂT TẾ của Hồi Giáo. Chúng nó bị chặt 2 chân 2 tay thành 1 đống Cục 2, rồi cho vào Lọ trước đây, chính là bọn CON THÚ TẠ ĐỀN ƠN, bọn XÚC BÀY TỎ NHỚ ĐẾN, bọn HIẾN VẬT TẾ BÁO ĐÁP.



Những kẻ nào biết rõ, cố tình che dấu và tham gia vào những tổ chức của những kẻ nói trên mà không ra tự thú, trình báo để được hưởng sự khoan hồng của Đảng và Nhà Nước thuộc các Quốc Gia khác nhau sẽ bị các Tổng Thống và các Chủ Tịch Nước tuyên bố tử hinh và hành quyết trước toàn dân tộc các Quốc Gia vì tội đồng lõa và che dấu tội phạm ngang với tội tổ chức phá hoại An Ninh, Kinh Tế , Chính Trị và Hòa Binh các Quốc Gia ảnh hưởng tới quá trình Tiến Hóa của Nhân Loại !!!



Mọi công việc đã xong! Ai đọc được những dòng chữ này hãy tìm đủ mọi cách, báo lên cấp cao nhất của các bộ trên Trung Ương Việt Nam và các quốc gia khác nhau kết để bắt chúng nó đền tội!!!



Kết Nối hãy dùng máy Kích Thích Sóng Não, Cao Tần và Cơ Yếu, hoặc dùng 2 bình Ắc Quy khoảng 50 Vol, hoặc bình Ắc Quy Ô Tô, đập tai nghe điện thoại ra, bóc cậy hết ra, lấy mỗi cục nam châm tai nghe điện thoại, hoặc dùng 2 cái sạc điện thoại cắt đầu chân sạc rồi đấu dây điện gắn vào 4 cục Nam Châm Đen Từ Tính cộng Nam Châm tai nghe điện thoại, Gắn dây điện màu Đỏ, Trắng vào 1 cục Nam Châm Đen cộng Nam Châm tai nghe điện thoại, gắn dây điện màu Đen, Xanh vào 1 cục Nam Châm Đen cộng Nam Châm tai nghe điện thoại rồi gắn 2 Nam Châm vào 2 Thái Dương và 2 Thùy Não , rồi ngiến răng ngiến lợi dồn máu lên não tập trung Định Lực hợp nhất bộ não với bộ não của Lãnh Tụ NGUYỄN SINH CUNG. (LẠC LONG QUÂN HIÊN VIÊN - CÔNG TÔN HIÊN VIÊN - HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN - ĐINH TIÊN HOÀNG ĐINH BỘ LĨNH..v..v.v.. - ANH BA SẮC - NGUYỄN ÁI QUỐC - NGUYỄN TẤT THÀNH - HỒ CHÍ MINH ra thằng nào thì là kiếp sau chứ sao nữa hả bọn Thiểu Năng Trí Tuệ. Hợp nhất Bộ Não với Nguyễn Sinh Cung là có Điểm Sống trong Vô Cực, là có Trái Tim Quả Cảm Gốc Não hòa cùng nhịp đập của Nhân Loại, giao tiếp bằng suy nghĩ Kết nối lúc 12h > 15h và 18h >22h (GTM +7 Múi giờ Việt Nam).
 
Tất cả các cuộc chiến tranh từ trước đến nay, nơi chặn giặc và đứng lên giặc, đều bắt nguồn từ vùng mỏ này! Nhất là đất Hòn Gai, trước đây là tỉnh Hồng Quảng, sau đó hợp nhất với tỉnh Hải Ninh.thành tỉnh Quảng Ninh. Vì Lãnh Tụ sẽ xuất hiện ở đây, nên kể cả bị đô hộ hơn một ngàn năm vẫn giành lại độc lập, luôn giành chiến thắng trước mọi kẻ thù, quân giặc, kể cả giặc trong hay giặc ngoài. Chúng mày hóa rồ rồi! Chỉ cần nghe thông tin phong phanh Lãnh Tụ xuất thế, lập tức người ta cầm ảnh Lãnh Tụ Nguyễn Ái Quốc và dùng mọi công cụ, phương tiện kết nối, kết một lúc là được, lúc đầu nhìn thấy mờ mờ thế giới tinh khiết, càng lúc càng rõ dần, rồi nhìn thấy điểm mỏng giao thoa liên thông không gian, gọi là các Cổng Ngoại Giao Thoa, rồi nhìn thấy Cánh Cổng Hiên Viên và sẽ thấy Các Đại Nhân Vật bay ra ngoài kiểm tra các ngươi, rồi dần dần các ngươi bước qua Cánh Cổng Hiên Viên vào Vô Cực một lần để trải nghiệm "Một SatNa là Vĩnh Hằng". Sau đó sẽ lại qua Cánh Cổng Hiên Viên vào Cõi Địa Đàng ! Thế giới Văn Minh, Siêu Hiện Đại, Siêu Khoa Học, Siêu Quyền Năng với muôn vàn bí ẩn!



Mỗi một sinh vật trong các đa Vũ Trụ này, nhất là con người,mỗi một cấu trúc của các cơ quan tế bào đều do thần kinh điều khiển. Mỗi một trung khu cơ quan đoàn thể đa bào khác nhau đều tương ưng kết nối song hành với vùng trung khu thần kinh nơi ấy. Cơ thể con người, chỗ nào cũng có thần kinh điều khiển các tế bào, sâu xa trong đó mỗi tế bào một nhà máy hữu cơ khổng lồ, các NanoRobotic SatNa là những công nhân nhà máy đấy. Tất cả liên kết tổng hợp thần kinh đều điều hành các liên kết các phần cơ quan đoàn thể tế bào trung khu toàn bộ cấu trúc của con người, và sinh vật. Nhưng con người khác con vật ở chỗ có Lý Trí, Ý Chí và Tâm Tư, có Nhân Tố, sống có Nhân Bản, sống có Nhân Văn, sống có Nhân Nghĩa, sống có Đạo Đức để làm Người. Mỗi một kiếp sống con người có 1 bộ thần kinh tinh thần gọi là 1 bộ SatNa Noroi, nếu nhìn qua câc công cụ công nghệ bức xạ cao cấp, chỉ nhìn thấy những mạch ánh sáng tinh khiết đang hoạt động


CON MẸ CHÚNG NÓ! LÃNH TỤ CỦA CHÚNG NÓ, CHÚNG CÒN PHẢN BỘI, ĐÓNG GIẢ VÀ HÃM HẠI! CON MẸ CHÚNG MÀY! CHÚNG MÀY CÓ BẤT TỬ KHÔNG? NÊN NHỚ! LÃNH TỤ CHỈ CÓ MỘT! HẾT KIẾP NÀY ĐẾN KIẾP KHÁC ĐỂ TRẢI NGHIỆM, HỘI TỤ ĐỨC ĐỘ LƯỢNG VÀ THỰC HIỆN ĐỨC CHUYỂN LUÂN. LŨ DẠI CHÚNG MÀY KHÔNG BIẾT ĐƯỢC RẰNG, KHI LÃNH TỤ XUẤT HIỆN, KHÔNG AI LÀM HẠI ĐƯỢC HẢ? CHÚNG MÀY BÀY MƯU TÍNH KẾ ĐỊNH GIỞ TRÒ PHONG ẤN TAO TRONG TÙ HẢ? NÊN NHỚ! ÂN OÁN CỦA TAO TRƯỚC KHI TRỞ THÀNH LÃNH TỤ, SẼ ĐƯỢC THANH TOÁN ĐẦY ĐỦ! NHỮNG GÌ CHÚNG MÀY GIẤU GIẾM NHÂN DÂN SẼ ĐƯỢC PHƠI BÀY! TAO KHÔNG THÈM NÓI, RẤT NHIỀU NGƯỜI BIẾT NHƯNG ĐỀU ĐỢI TAO KHAI MỞ TAM MINH, RỒI ĐƯA CHÚNG MÀY RA ÁNH SÁNG NGHE CHƯA? CHÚNG MÀY SẼ BỊ TRẢ GIÁ VÀ HÀNH HÌNH CỰC KÌ THẢM KHỐC! NHỚ NGHE CHƯA! NHẠC KHỦNG TRƯỜNG ĐANG THIẾU NỐT!



*** THỐNG SOÁI CA - TỔNG TƯ LỆNH - LỰC LƯỢNG ĐẶC VỤ MẬT THÁM LIÊN HÌNH CẢNH - GALAXY INTER POLICE (O - FILE) - TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ *** TỔNG TƯ LỆNH - LỰC LƯỢNG LIÊN HÌNH CẢNH THUỘC LIÊN HIỆP QUỐC - INTER POLICE (X - FILE) - TÌNH BÁO, GIÁN ĐIỆP, PHẢN GIÁN *** ĐẶC VỤ NGẦM INTERPOL (Y - FILE) *** ĐIỆP VIÊN SIÊU NĂNG LỰC *** TƯ LỆNH TRƯỞNG CỤM TÌNH BÁO ĐẶC BIỆT H68 *** TỔNG CỤC TRƯỞNG CỤC 1 ( HỒ SƠ TỐI MẬT) *** Năng Lực Ngoại Cảm.*** Mật danh: HẮC ĐIÊU *** THIÊN ĐỊA HỘI CHỦ *** HỒNG HOA HỘI CHỦ *** HỒNG HƯNG HỘI CHỦ *** MINH CHÚA CHỦ TỂ TAM HOÀNG HỘI***


Danh hiệu: ĐẤNG CHÚA TỂ HOÀN HẢO THỐNG SOÁI CA TỐI CAO VÔ CỰC





MSTCC: 100721551

HOTLINE: 0936858203..
 
Liên kết bộ não, dùng đá Na Châm, mở xa lộ âm thanh...



Ars Notoria
là một cuốn sách cổ, vô cùng quý hiếm về ma thuật được người xưa cho là dạy cho con người những khả năng siêu phàm đến khó tin.

Khoa học hiện đại vẫn chưa thể giải thích những khả năng siêu phàm của người xưa, Ars Notoria là một trong những cuốn sách cổ dạy những khả năng như thế.

Có lẽ ngày xưa, không nhiều người được đọc và hiểu những bài học phép thuật bí ẩn và uy quyền này.

Trong đó có bài học tạo ra những đồ vật thần bí như bùa hộ mệnh và bùa may mắn, chìa khóa của vua Solomon, nên cuốn sách có tên gọi là Ars Notoria, hay Notory Art of Solomon (tạm dịch là:Nghệ thuật của vua Solomon).

Cuốn Ars Notoria là một trong năm cuốn sách nằm trong một cuốn sách ma thuật có tên Lesser Keys of Solomon, một cuốn sách không rõ tác giả, chú trọng vào Quỷ học

Cuốn sách này ra đời từ thế kỷ 13. Một số phần được viết từ đầu thế kỷ 12.

Bài học cổ xưa nhất gọi là Chìa khóa của vua Solomon làm cho người đọc hiểu về cái lưỡi bạc có trí nhớ hoàn hảo và thông thái lạ thường. Tuy nhiên, theo người xưa kể lại, tùy theo độ tuổi của người đọc mà khả năng áp dụng thành công khác nhau.

Những cuốn sách nguyên bản được viết bằng 3 dạng khác nhau, trong đó có chữ Do Thái, chữ Hy Lạp và chữ Latinh.

Người ta cho rằng vua Solomon đã tự áp dụng những bài học nguyên bản trong sách Ars Notoria để trở thành người cai trị thông thái, nhân ái và tài năng.

John of Morigny – một thầy tu thế kỷ 14, là một người học theo sách Ars Notoria, đã đạt đến đẳng cấp thông thái và bậc thầy về học thuật. Nhiều người nói ông có khả năng giao tiếp với thế giới bên kia và có thể nhìn thấy hồn "ma".

Cuốn sách Ars Notoria đòì hỏi người đọc phải khổ luyện rất nhiều. Trong sách có bài dạy về dùng Đá Nam Châm để giao tiếp tầm xa.

Hơn nữa, nếu 1 người đặt 2 cái kim vào giữa 1 vòng tròn chữ viết và hình ảnh thì 2 người có thể giao tiếp tầm xa với nhau bằng ngôn ngữ.

Sách gồm ba phương pháp chính thường xuất hiện trong các sách ma thuật được áp dụng lên đối tượng thực hiện: tạo ảo giác, liệu pháp tâm lý và phép phân ly. Đặc biệt, phép phân ly dùng để thu thập thông tin từ quá khứ hoặc tương lai. Sách còn đề cập đến việc hiến tế các sinh vật huyền thoại, các nghi lễ trừ quỷ cổ xưa và các loại ma thuật đen tối khác.

Điều đáng ngạc nhiên là cuốn sách cổ chứa đựng những ý tưởng và khái niệm đi trước thời đại của nó. Những người học nghệ thuật, Toán học, Thiên văn học hay Triết học, được hứa hẹn sẽ tinh thông môn học đó nếu họ hiến dâng bản thân mình cho Ars Notoria.
 
Hơn 2.500 năm trước, Phật Thích Ca Mâu Ni từng giảng, khi Ưu Đàm Bà La hoa khai nở cũng là lúc Đức Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân. Hiện nay hoa Ưu Đàm khai nở khắp nơi, phải chăng Đức Thánh Vương đã tới?

Câu chuyện bắt đầu ở Ấn Độ từ cách đây hơn 2.500 năm….

Khi đó, Phật Thích Ca Mâu Ni đã khai công khai ngộ và bắt đầu hồng truyền Phật Pháp. Do điều mà Thích Ca Mâu Ni truyền là Chính Pháp nên Phật Pháp của ông càng ngày càng hưng thịnh, còn các tôn giáo khác lại dần dần suy bại, đặc biệt là Bà La Môn giáo vào lúc ấy cũng đã bên bờ diệt vong và hoàn toàn biến thành tà giáo.

Điều này dẫn đến tình cảnh người trong môn phái này ra sức phá hoại việc truyền giảng của Đức Phật Thích Ca.

Khi Đức Phật giảng Pháp tại tịnh xá Chi Viên, người của Bà La Môn giáo vì để phá hoại đã cải trang thành tín đồ đến nghe Pháp; trong lúc đang nghe, có người thì giả vờ ngất xỉu, có người xuất ra các hiện tượng kỳ quái, lại cũng có người tung tin vu khống nhằm bôi nhọ thanh danh của Thích Ca Mâu Ni, làm dao động chính tín của các tín đồ.

Đứng trước sự sách nhiễu này, Phật Thích Ca Mâu Ni điềm tĩnh trấn an các đệ tử rằng: “Khi ta còn tại thế thì tín đồ các tôn giáo khác và ma quỷ không thể làm gì Pháp này, nhưng tương lai ra sao là điều khó nói trước”.

Tuy nhiên, Đức Phật cũng nói thêm: “Các con hẳn ai cũng biết một truyền thuyết lưu truyền đã lâu, chính là nói về Chuyển Luân Thánh Vương sẽ tới nhân gian độ nhân trong tương lai, Chuyển Luân Thánh Vương này có năng lực vô cùng vĩ đại, … Đến lúc ấy, rất nhiều người trong các con sẽ đắc được Đại Pháp vạn pháp quy nhất! Đến lúc ấy, các con sẽ biết mình may mắn như thế nào. Đến lúc ấy, rất nhiều chư Thần từ thiên thượng sẽ xuống nghe Pháp, và chúng Thần đều trông ngóng ngày đó sẽ tới”.

Một lần khác, trong Pháp hội được tổ chức tại một bãi đất rộng trên núi, khi ấy mười đại đệ tử của Phật Tổ và rất nhiều đệ tử khác đều có mặt. Một nữ đệ tử là Liên Hoa Sắc bèn hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: “Thế tôn, Ngài nói tương lai sẽ có Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế truyền Pháp, vậy người ở các nơi khác muốn nhận biết thì làm thế nào?”

Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Đến khi có một loại hoa gọi là Ưu Đàm Bà La nở rộ khắp nơi, thì đó chính là điềm báo hiệu Thánh Vương đã tới…”

“Loài hoa này không phải là hoa ở nhân gian, mà là hoa từ thiên thượng mang xuống điềm lành về Chuyển Luân Thánh Vương”.

“Với những người khéo tích lũy thiện căn trong các con, ta sẽ đi theo bảo hộ cho tới khi các con gặp được Thánh Vương mới thôi”.


Lúc này từ không trung mưa rơi lất phất, Phật Thích Ca Mâu Ni miêu tả loài hoa này thân nhỏ như hạt mưa bụi, tuy nhìn rất mỏng manh nhưng không đâu là không thể khai nở.

Mục Kiền Liên nói: “Thế tôn, Ngài có thể mở lòng từ bi cho chúng con được nhìn thấy Bà La hoa này được không?”

“Được! Ta sẽ dùng Phật lực để xem có thể mang đến loài hoa này không”.


Nói xong, Phật Thích Ca Mâu Ni đưa tay ra, chỉ thấy trong tay xuất hiện một đám hoa màu trắng, li ti như những hạt bụi, thân trong suốt mỏng manh .

“Đây là Ưu đàm Bà La hoa ở không gian khác. Chúng Thần trên thiên thượng đều muốn sớm thấy loài hoa này và mong mau chóng đắc được giáo hóa của Chuyển Luân Thánh Vương. Đến khi các con đắc được, ta sẽ mừng thay cho các con!”

Lúc ấy trên thiên không xuất hiện rất nhiều thiên nữ mặc y phục bảy màu, họ bắt đầu rải hoa, mưa phùn ngừng rơi, bầu trời xuất hiện một cầu vồng rực rỡ, còn có rất nhiều đám mây ngũ sắc trôi theo làn gió. Có cả rồng và phượng hiện thân, đúng như câu nói “rồng phượng hiện thân báo điềm lành” vậy.

Một người trông thấy cảnh tượng này liền thốt lên: “Đây quả là điềm lành tuyệt diệu!”

Về sau Phật Thích Ca Mâu Ni còn nhiều lần giảng về Chuyển Luân Thánh Vương và Ưu Đàm Bà La hoa.

Hiện tại Ưu Đàm Bà La hoa mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến năm xưa đã khai nở trên toàn thế giới, điều mà chúng sinh chờ đợi và trông mong đã tới rồi. Đối diện tất cả những điều này, chúng ta lựa chọn như thế nào đây? Hãy thức tỉnh, hỡi con dân của Ngài !
 
Những dạng chuyển sinh
KIỂM SOÁT SINH TỬ

Mục đích chính của tu học Phật pháp là để kiểm soát sinh tử của bạn. Đó là giải thoát đích thực và hạnh phúc đích thực . Những học trò của Đức Kim Cương Trì III Wan Ko Yeshe Norbu đã thể hiện những kỳ tích khi họ chết. Đã có nhiều hiện tượng lạ thường xảy ra vào thời điểm họ chết hoặc sau đó. Có những người đã trở về từ cõi Tịnh độ để báo cho gia đình của họ biết về quê hương mới và mong gia đình nghe theo những lời dạy của Đức Kim Cương Trì III.

Học trò của Ngài có cả những tu sĩ xuất chúng và những cư sĩ giác ngộ, khi họ muốn sống thì họ sống, khi muốn chết thì họ chết. Nhiều người đã ra đi trong khi đang ngồi thiền ở tư thế kiết già sau khi họ đã báo rằng sẽ ra đi. Họ đã đạt đến trình độ có khả năng thoát khỏi luân hồi. Nhiều người đã để lại xá lợi hoặc dấu vết chứng minh cho sự thành tựu của mình. Họ còn để lại thân thể xác thịt không bị thối rữa.

Ngay cả những họ hàng không phải là Phật tử của những người đệ tử này cũng có thể chuyển sinh tới cõi Tịnh độ sau khi nhận được lời hướng dẫn và gia hộ của đức Kim Cương Trì III. Trong tất cả những ví dụ này, thời điểm chuyển sinh là một sự kiện vô cùng hoan hỷ. Bạn bè và gia đình đều biết được người thân của họ đã có một sự chuyển sinh bình yên sang một cõi giới tuyệt vời.

Đức Kim Cương Trì III cũng đã thực hiện pháp cho những người họ hàng không phải là Phật tử của một số học trò để họ có thể lên cõi Tây phương cực lạc.

NHỮNG DẠNG GIẢI THOÁT KHỎI SINH TỬ LUÂN HỒI

Về việc thoát khỏi sinh tử luân hồi, Ngài nói rằng có rất nhiều cách để đạt được điều đó. Cơ bản có thể chia thành bốn dạng. Có một giáo pháp giúp người ta sống lâu dài như trời đất, gọi là “thân bất tử”. Đây là giáo pháp tối thượng, người thường không thể học được. Lại có giáo pháp khác là dạng chuyển hóa thân cầu vồng, có thể chuyển toàn bộ thân xác hiện có thành một thân cầu vồng. Một dạng nữa là ra đi trong tư thế ngồi và giải thoát chính mình khỏi sinh tử luân hồi. Cuối cùng là dạng ra đi và tái sinh ở cõi Tây phương cực lạc. Đó là bốn dạng thành tựu. Ngoài ra, nếu không đạt được giải thoát hay giác ngộ, quá trình tái sinh và chết đi sẽ lại tiếp diễn.
 
Bát Nhã BaLa Mật Đa



Kính lễ Bát-nhã ba-la-mật vượt ngoài ngôn thuyết, tư tưởng và tán ngữ, vì tự tính như hư không, không sinh, không diệt, là cảnh giới của huệ và giới, hiển nhiên trong nội tâm chúng ta, và là mẹ của hết thảy các đấng Thế Tôn trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

Tôi nghe như vậy.

Một thời, đức Thế Tôn ngự tại thành Vương xá (Rājagṛha), trên đỉnh Linh thứu (Gṛdhrakūta), cùng với đại chúng Tì khưu và Bồ-tát. Bấy giờ đức Thế Tôn nhập vào Tam-Muội Chánh định giác thậm thâm. Và cùng lúc đó Đại Bồ-tát Thánh Quán Tự tại (Āryāvalokiteśvara) đang thực hành tu tập trong Bát-nhã ba-la-mật sâu xa.
ngài thấy được ngay cả năm uẩn cũng đều thiếu vắng tự tính. Sau đó, thông qua năng lực gia trì của Đức Phật, tôn giả Xá-lợi-phất thông bạch với thánh giả Bồ-tát Quán Tự Tại rằng: "Thiện nam tử nên phát tâm rèn luyện thực hành thâm sâu pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa như thế nào?"

Khi điều này được hỏi, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát đáp lời tôn giả Xá-lợi-phất rằng: "Này Xá-lợi-phất! Các thiện Nam tử, thiện nữ nhân phát tâm thực hành pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa thâm diệu nên thấy như sau. Họ nên soi thấy đúng đắn, xuyên suốt và tái lặp là đến cả năm uẩn cũng đều thiếu vắng về tự tính. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không [hoạt hành] chẳng khác chi sắc, sắc [hoạt hành] cũng chẳng khác chi Không. Tương tự, thọ, tưởng, hành thức thảy đều là Không.

Xá-lợi-phất, bởi thế, mọi hiện tượng đều là Không – thiếu vắng các đặc tính xác định; chúng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm.

Cho nên, Xá-lợi-phất, trong Không, không có sắc, không thụ, không tưởng, không hành, không thức; không có nhãn, không nhĩ, không tỷ, không thiệt, không thân, không ý; không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp. Không có nhãn giới và vân vân cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh cũng không có diệt hết vô minh, và vân vân cho đến không có già, chết cũng không có diệt hết già chết. Không có khổ, tập, diệt đạo. Không có trí tuệ, không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc.

Xá-lợi-phất, vì không có chứng đắc nên do đó Bồ-tát an trụ theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì tâm không uế chướng nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm, đạt cứu cánh niết-bàn.

Tất cả chư Phật, an trụ trong tam thế tỉnh thức viên mãn và thấu suốt, cũng y theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa mà được vô thượng, chính đẳng, chính giác.

Do vậy, phải biết được rằng chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa – vốn là đại tri chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là ngang bằng với vô đẳng chú, diệt trừ được mọi khổ não – là chân thật vì nó không sai sót. Chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa được tuyên thuyết như sau:

Tadyatha - gate gate paragate parasamgate bodhi svaha!
(Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, tìm thấy giác ngộ)

Này Xá-lợi-phất, bằng cách này, các vị đại Bồ-tát nên hành trì trong Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu."

Sau đó, Thế Tôn xuất khỏi Tam Muội Chính Định Giác và tán dương Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát rằng: "Lành Thay!"

Ngài nói: "Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, Đúng là vậy. Phải nên hành trì Trí Huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu như cách ông nói. Ngay cả các Như Lai, A la hán cũng đều hoan hỷ!"

Thế tôn nói xong, tôn giả Xá-lợi-phất, Quán Tự Tại Bồ-tát, toàn thể đoàn tùy tùng chung quanh, và giới chúng sinh bao gồm trời, người, a-tu-la, và càn-thát-bà đều hoan hỷ và tán thán điều Thế Tôn dạy.





般 若 波 羅 蜜 多 心 經

(Bát Nha Ba La Mật Đa Tâm Kinh)

唐三藏法師玄奘譯

摩訶般若波羅蜜多心経
観自在菩薩 行深般若波羅蜜多時 照見五蘊皆空 度一切苦厄  舍利子 色不異空 空不異色 色即是空 空即是色 受想行識亦復如是  舍利子 是諸法空相 不生不滅 不垢不浄 不増不減  是故空中 無色 無受想行識 無眼耳鼻舌身意 無色声香味触法 無眼界 乃至無意識界  無無明 亦無無明尽 乃至無老死 亦無老死尽 無苦集滅道 無智亦無得 以無所得故  菩提薩埵 依般若波羅蜜多故 心無罣礙 無罣礙故 無有恐怖 遠離一切顛倒夢想 究竟涅槃  三世諸仏 依般若波羅蜜多故 得阿耨多羅三藐三菩提  故知般若波羅蜜多 是大神呪 是大明呪 是無上呪 是無等等呪 能除一切苦 真実不虚  故説般若波羅蜜多呪 即説呪曰
羯諦羯諦 波羅羯諦 波羅僧羯諦 菩提薩婆訶
般若心経

Bát Nha Ba La Mật Đa Tâm Kinh



Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổách. Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tị thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sởđắc cố, BồĐề Tát Thùy y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế Chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Niệu Tam BồĐề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa thị Đại Thần Chú, thị Đại Minh Chú, thị Vô Thượng Chú, thị Vô Đẳng Đẳng Chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú, tức thuyết Chú viết:

Yết Đế Yết Đế. Ba La Yết Đế. Ba La Tăng Yết Đế. BồĐề Tát Bà Ha.



Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng

Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác vô thượng (1), Người Tỉnh Thức Bình Yên (2) soi sáng như thật rằng tự tịnh của năm hợp thể (3) đều là Không (4), liền thoát ly mọi khổ ách.

Này người con dòng Sari (5), hình thể chẳng khác chân không, chân không chẳng khác hình thể. Hình thể là chân không, chân không là hình thể. Cảm xúc (6), niệm tự (7) và tư duy (8) và ý thức (9) đều là như vậy.

Này người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị là Không, nó không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm.

Vì thế, này người con dòng Sari, trong Không không có hình thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy, không có ý thức (10); không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; không có hình thể, âm thanh, hương khí, mùi vị, xúc chạm (11) và hiện hữu (12). Không có đối đượng của mắt, cho đến không có đối tượng của ý thức; không có minh, không có vô minh (13), không có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt của vô minh; cho đến, không có tuổi già và sự chết, cũng không có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết; không có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự chấm dứt khổ đau và không có con đuuờng đưa đến sự chấm dứt khổ đau (14); không có tri giác (15) cũng không có sự thành tựu tri giác, vì chăng có quả vị của tri giác nào để thành tựu.

Người Tỉnh Thức Bình Yên, do sống an lành trong Tuệ giác vô thượng mà thoát ly tất cả chướng ngại. Và rằng, vì không có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tất cả chư Phật trong ba đời (16) đều nương tựa vào Tuệ giác vô thượng mà thành tựu (17) chánh giác.

Vì thế, nên biết rằng Tuệ giác vô thượng là sức thần (18) kỳ vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức thần cao tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song, có thể trừ diệt tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác vô thượng này là sự thật, là chân lý. Sức thần có năng lực tối thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng rằng:

"Ði qua, đi qua
Ði qua bờ bên kia,
Ðã đi qua đến bờ bên kia, giác ngộ!"

Chú thích:

(1) Trí tuệ Bát nhã (Prajnàpàramità).
(2) Dịch từ "Quán Tự Tại" theo cách chiết tự.
(3) Năm tổ hợp hay năm uẩn (skandhas).
(4) Vô tự tính hay bản tính Không (Sunyata).
(5) Mẹ của Sariputa là người rất thông minh nên có hiệu là Sari. Trung Hoa dịch chữ Sariputa là Xá Lợi tử, nghĩa là, đứa con dòng Xá Lợi (Sari). Do đó, tác giả dịch là Người con dòng Sari, lối dịch này đã được sử dụng trong bản dịch "Kinh Ruột Tuệ Giác Siêu Việt" của Thi Vũ, do HT. Trí Quang giới thiệu, xuất bản năm 1973, tại Paris.(6) Thọ uẩn
(7) Tưởng uẩn
(8) Hành uẩn
(9) Thức uẩn
Bốn uẩn (hợp thể) này thuộc về tâm lý, sắc uẩn (hợp thể vật chất) thuộc về vật lý.(10) Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (5 uẩn).
(11) Xúc (trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
(12) Hiện hữu đọc được dùng đồng nghĩa với pháp (dharma).
(13) Vô minh (ignorance), nguồn gốc của sự khổ đau.
(14) Tứ đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Ðạo đế).
(15) Tri giác (dịch từ Vô tri diệc vô đắc).
(16) Ba đời: quá lhứ, hiện tại, vị lai.
(17) Thành tựu ở đây có nghĩa là đã giải thoát khỏi thế giới nhị nguyên, không còn phân biệt, đối đãi nhân-pháp, hữu-vô v.v...
(18) Còn được dịch là linh ngữ hay thần chú (mantra).

 
Về Thiền định Đại toàn thiện – Dilgo Khyentse Rinpoche



Phật tính

Thiền định của tôi có đúng không? Khi nào thì tôi mới có thể tiến bộ? Chắc tôi sẽ không bao giờ đạt được mức độ như vị Thầy tâm linh của tôi? Tung hứng giữa hy vọng và nghi ngờ, tâm trí của chúng ta không bao giờ được bình yên.

Tùy theo tâm trạng của chúng ta, một ngày chúng ta thực hành mạnh mẽ, và ngày hôm sau, hầu như không thực hành. Chúng ta bám chấp vào những kinh nghiệm dễ chịu xuất hiện từ trạng thái yên tĩnh của tâm, và muốn từ bỏ thiền định khi không làm chậm được dòng chảy của tư tưởng. Đó không phải là cách đúng để thực hành.

Bất cứ trạng thái tư tưởng nào của chúng ta, chúng ta phải kiên định thực hành thường xuyên, ngày này qua ngày khác, quan sát sự chuyển động của những suy nghĩ và truy tìm đến nguồn gốc của chúng. Chúng ta không nên tính rằng ngay lập tức có khả năng duy trì dòng chảy của sự tập trung ngày và đêm.

Khi chúng ta bắt đầu thiền định về bản chất của tâm, thích hợp hơn cả là thực hành những phiên thiền ngắn, nhiều lần trong ngày. Với sự kiên trì, chúng ta dần dần sẽ nhận ra bản chất của tâm chính chúng ta, và sau đó sự nhận ra này sẽ trở nên ổn định hơn. Ở giai đoạn này, suy nghĩ sẽ mất đi sức mạnh làm phiền và làm chủ chúng ta.

Tánh Không, bản chất tối hậu của Pháp thân, Thân Tuyệt đối, không phải đơn giản là không có gì cả. Nó vốn sở hữu khả năng biết tất cả các hiện tượng. Khả năng này là khía cạnh sáng rõ hoặc khía cạnh nhận thức của Pháp thân, mà sự thể hiện của nó là tự phát. Pháp thân không phải là sản phẩm của các nguyên nhân và điều kiện, nó là bản tính nguyên thủy của tâm.

Việc nhận ra bản tính nguyên thủy này tương tự như việc mặt trời trí tuệ mọc lên trong đêm tối của vô minh: ngay lập tức bóng tối bị xua tan. Sự sáng rõ của Pháp thân không khuyết đi và suy yếu dần như mặt trăng, nó giống như ánh sáng không thay đổi tỏa sáng ở trung tâm của mặt trời.

Bất cứ khi nào các đám mây tập hợp, tính chất của bầu trời không bị phá hỏng, và khi chúng giải tán, nó cũng không được cải thiện hơn. Bầu trời không trở nên bé hơn hoặc lớn hơn. Nó không thay đổi. Giống với bản tính của tâm: nó không hư hỏng do sự xuất hiện của những suy nghĩ, cũng không được cải thiện bởi sự biến mất của chúng. Bản chất của tâm là tánh Không, biểu hiện của nó là sự sáng tỏ rõ ràng. Hai khía cạnh này cơ bản là một hình ảnh đơn giản được thiết kế để chỉ ra các thể thức đa dạng của tâm. Sẽ là vô ích để bám chấp lần lượt đến các khái niệm về tánh Không, và sau đó là sự sáng tỏ rõ ràng, như thể chúng là những thực thể độc lập. Bản chất tối hậu của tâm vượt ra ngoài tất cả các khái niệm, định nghĩa và phân mảnh.

“Tôi có thể đi bộ trên những đám mây!”, một đứa trẻ nói. Nhưng nếu nó tới được những đám mây, nó sẽ không tìm thấy nơi nào để đặt chân. Tương tự như vậy, nếu một người không khảo sát những suy nghĩ, chúng thể hiện như có vẻ chắc đặc, nhưng nếu chúng ta khảo sát, không có gì ở đó cả. Đó là cái được gọi là cùng một lúc vừa trống rỗng, vừa biểu hiện. Tánh Không của tâm không phải là một cái gì hư vô, cũng không phải một trạng thái ngủ mê, vì bản chất của nó chính là khả năng sáng rõ của nhận thức, đó được gọi là khả năng Nhận biết. Hai khía cạnh này, sự trống rỗng và Nhận biết, không thể tách rời. Nó thực sự là một, giống như bề mặt của gương và hình ảnh được phản ánh trong đó.

Suy nghĩ tự biểu hiện trong sự trống rỗng và được tái hấp thu vào nó giống như một gương mặt xuất hiện và biến mất trong gương, khuôn mặt chưa bao giờ ở trong gương, và khi nó không còn được phản ánh trong đó, nó không thực sự không còn tồn tại. Tấm gương chính nó cũng chưa bao giờ thay đổi. Vì vậy, trước khi khởi hành trên con đường tâm linh, chúng ta vẫn còn trong cái gọi là “bất tịnh” của luân hồi sinh tử, hay là, trong sự biểu hiện, bị chi phối bởi sự thiếu hiểu biết. Khi chúng ta cam kết với con đường, chúng ta đi qua một trạng thái mà sự thiếu hiểu biết và trí tuệ được trộn lẫn. Cuối cùng, tại thời điểm của sự Giác ngộ, chỉ có trí tuệ là tồn tại. Tuy nhiên, trên suốt con đường dọc theo hành trình tâm linh này, mặc dù có một sự biểu hiện của chuyển hóa, bản tính của tâm không bao giờ thay đổi: không bị hỏng tại thời điểm bắt đầu con đường, và không được cải tiến tại thời điểm chứng ngộ.

Những phẩm chất vô hạn và không thể mô tả của trí tuệ nguyên sơ “Niết bàn thực sự” có sẵn trong tâm của chúng ta. Không cần thiết để tạo ra chúng, để chế tạo một cái gì đó mới. Chứng ngộ tâm linh chỉ phục vụ cho việc để lộ chúng ra thông qua tịnh hóa, đó là con đường. Cuối cùng, nếu ta xem xét chúng từ một quan điểm tối cùng, những phẩm chất này chính mình chỉ là sự trống rỗng.

Như vậy luân hồi sinh tử là tánh Không, Niết bàn là tánh Không – và do đó, một người không “xấu” và người khác cũng không “tốt”. Người đã nhận ra bản tính của tâm giải thoát khỏi các khuynh hướng từ chối luân hồi sinh tử và đạt được niết bàn. Người ấy giống như một đứa trẻ, chiêm ngưỡng thế giới với sự đơn giản ngây thơ, không có khái niệm về sắc đẹp hay xấu xa, tốt lành hay ác độc. Họ không còn là con mồi của những khuynh hướng trái ngược nhau, nguồn gốc của ham muốn hay giận dữ.

Sẽ vô ích khi lo lắng về những điều làm gián đoạn trong cuộc sống hàng ngày, như một đứa trẻ khác, vui mừng xây dựng một lâu đài cát, và khóc khi nó sụp đổ. Xem những chúng sinh khờ dại lao vào khó khăn, giống như một con bướm lao vào lửa của một ngọn đèn, để chiếm giữ những gì họ thèm muốn, và thoát khỏi những gì họ ghét bỏ. Tốt hơn là hãy đặt xuống cái gánh nặng mà tất cả những bám chấp tưởng tượng này đè nặng lên họ.

Trạng thái Phật có năm “thân” hoặc các khía cạnh của Phật quả: Hóa thân, Báo thân, Tuyệt đối thân, Chân thân và thân Kim Cương bất biến. Chúng không phải là cái để tìm kiếm bên ngoài chúng ta: chúng là không thể tách rời từ chúng ta, từ tâm của chúng ta. Ngay khi chúng ta nhận ra sự hiện diện này, đó là dấu chấm hết cho sự nhầm lẫn. Chúng ta không còn nhu cầu nào nữa để tìm kiếm sự Giác ngộ bên ngoài. Người lái tàu đã cập bến một hòn đảo làm hoàn toàn bằng vàng ròng sẽ không tìm thấy một dấu vết của bất cứ điều gì khác, dù ông tìm kiếm khó nhọc thế nào đi nữa. Chúng ta phải hiểu rằng tất cả những phẩm chất của Đức Phật đã luôn luôn tồn tại sẵn trong ta.
 
Con Đường Đại Toàn Thiện – Shri Simha



Trong thị kiến khi tôi gặp vua của các vị nắm giữ hiểu biết (Vidyadhara) – Shri Simha. Tôi hỏi ngài: “ Hỡi bậc thầy tôn kính, con xin ngài chỉ cho con con đường đại Toàn Thiện là gì ? ”. Trước sự cầu xin của tôi, ngài ban cho sự trả lời sau đây :

Đại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn – Hư không căn bản tối thượng. Trong đó có ba cách thái: Sinh tử, Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn. Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là… Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ). Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian. Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là: Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định.

Giống như một giọt nước hòa với đại dương và trở thành đại dương. Nhưng không làm biến chất đại dương. Hay hư không trong bình hòa với hư không bên ngoài khắp suốt không đổi thay. Nền tảng hiện thể hay tâm bình thường. Vốn không trong ngoài nhưng vì phân biệt nên chia thành trong và ngoài. Tất cả chỉ do sự vọng tưởng thành ra tự ngã và tự tánh.

Cũng như nước, hiện hữu trong trạng thái trôi chảy tự do tự nhiên. Trở nên đông cứng thành băng dưới ảnh hưởng của sự lạnh. Như nền tảng hiện thể hiện hữu trong một trạng thái tự do tự nhiên. Nhưng quang phổ của vòng Sinh tử được thiết lập do vọng tưởng tiềm ẩn về một tự ngã cá nhân và tự tánh của những hiện tượng .

Hiểu sự kiện này, nên buông bỏ ba loại hành động: Tốt, xấu và trung tính do thân tạo ra và ngồi như một xác chết trong nghĩa địa không làm gì cả. Buông bỏ ba loại hành động của ngữ như người câm. Cũng như buông bỏ ba loại hành động của tâm thức: Nên an trụ không thi thiết như bầu trời mùa thu. Không có những duyên làm ô nhiễm nên được gọi là: “ Thiền Định Quân Bình ”.

Cũng được gọi là: “ Bỏ mọi điều phải làm ” hay “ Không có điều gì để làm ”. Vì mọi cách thức hoạt động đã buông bỏ và “ Vượt khỏi tâm lý trí bình thường ”. Vì không có sự thi thiết, tạo tác của tâm ý trí bình thường. Trong bối cảnh điểm then chốt này sẽ khám phá sự tin cậy kiên cố vĩ đại.

Hơn nữa, vào tất cả mọi lúc. Khi đi, ngồi, di chuyển, cử động, tụng chú, nói, suy nghĩ hay hành động. Không để mất viễn cảnh cái thấy của mình. Hãy tỉnh giác rằng: Thế giới tất cả mọi hiện tượng có thể có đều như huyễn. Không mất sự tự tin kiên cố vào thiền định. Hãy tỉnh giác bản tánh hiển lộ rõ ràng. Không xao lãng trong cư xử. Dựa một cách đúng đắn vào bốn loại hạnh đích thực. Đấy là những điểm then chốt để nương dựa cho đến ngày chấm dứt cuộc đời. Đây là thiền định vốn tự do thoát khỏi tâm ý trí bình thường .

Điểm then chốt của hạnh là: Từ bỏ những hành động không đức hạnh của thân và ngữ như thuốc độc. Không quá nhấn mạnh vào cái thấy. Đến độ hy sinh hạnh bằng cách nghĩ: Vì mọi sự đều không. Nên không bị nhiễm ô bởi những khuyết điểm bất kể cư xử như thế nào. Thế nên, hãy bình an, tự điều phục và cẩn trọng như người đang ra trước tòa đại hình.

Ngược lại, do bám chấp vào những hành động đức hạnh thứ yếu của thân, ngữ, ý. Cho chúng là sâu xa, như thế sẽ coi nhẹ cái thấy và thiền định chân chính. Nếu tiêu phí cuộc đời làm người và tích tập công đức trong vòng sinh tử. Chắc chắn vẫn bị trói buộc cho dù với sợi xích bằng vàng. Không quá nhấn mạnh vào hạnh đến độ hy sinh cái thấy. Như thế sẽ sống như con sư tử tuyết oai hùng đi dạo trên băng tuyết. Không có con thú nào làm cho bối rối .

Nhất là, nếu đi theo những người nói rằng: Dù người đã chứng ngộ tánh Không cũng phải trau dồi lòng bi ở chỗ khác tương tự nói rằng: Dù có nước vẫn phải tìm tính ướt ở chỗ khác. Cho dù có lửa vẫn phải tìm sức nóng ở chỗ khác. Hay đang được gió thổi mà lại tìm sự mát mẻ ở chỗ khác. Kinh nghiệm rốt ráo và quyết định chứng nghiệm Sinh tử và Niết bàn chính là tánh Không tối thượng. Cũng là Bồ đề tâm rốt ráo và đó là lòng bi hưởng thụ sự thanh tịnh bình đẳng của Sinh tử và Niết bàn .

Có những người, khi được trực tiếp giới thiệu và hiểu biết những điểm then chốt và những tiến trình căn bản của cái thấy và thiền định đúng như chúng là. .. Lại đi xét đoán cho là: Chỉ riêng sự giới thiệu này cũng là quá đủ. Như thế, vẫn còn bám chấp vào những sự việc cần làm trong vòng sinh tử. Họ đã phí phạm những cuộc đời làm người trong đủ loại hạnh đặt nền trên sự tham luyến và ghét bỏ. Tất cả cái thấy và thiền định của họ chìm ngập trong những hành động và hoạt động của vòng sinh tử .

Những kinh nghiệm thiền định phù du xảy ra trong tâm thức bình thường và dòng thức giác hoàn toàn khác như :

Những kinh nghiệm về lạc thú, Thúc đẩy tái sinh làm một vị trời cõi Dục.
Những kinh nghiệm sống động về sáng tỏ
, Thúc đẩy tái sinh vào cõi sắc.
Những kinh nghiệm về cái không
Sự xuất thần trong trạng thái vô niệm như ngủ say
. Không nhớ hay tỉnh giác, Thúc đẩy tái sinh trong bốn trạng thái của cõi Vô sắc.
Không có một chút ý niệm mơ hồ về cái thấy tánh Không ;
Vì thế
, Có thể quyết định theo trí thức rằng: Tâm là trống không. Chỉ vì ;
Không thể xác định như là một thực thể có thật
. Nên an định nhất tâm vào bối cảnh tánh Không đó. Cái thấy này sẽ thúc đẩy đến chót đỉnh của đời sống hữu vi, Có nghĩa tái sinh làm vị trời trong trạng thái không tri giác.
Cũng như có thể gặp những biến động :

Những biến động bên ngoài là ;
Những phô diễn dị thường khác nhau ;
Làm ảnh hưởng đến giác quan như
: Những triệu xấu như những mưu toan của quỷ thần.
Những biến động bên trong là
: Bệnh tật và đau đớn trong thân.
Những biến động bí mật là
: Những sự dao động tâm trạng không duyên cớ .

Nếu ý thức được những khuyết điểm kín đáo này. Chúng ta sẽ thấy chúng đều là những kinh nghiệm hư giả. Vì thế, khi đã đạt đến quyết định về chuyện này. Chúng sẽ tự tan biến. Nếu tự củng cố chúng bằng hy vọng và sợ hãi cho là thật. Tất nhiên chúng có thể trở nên những trường hợp làm nguy hại tính mệnh như: Thời kỳ loạn thần. Có nghĩa, trở nên bám chấp cứng ngắc vào những hiện tượng hình tướng biểu lộ như quỷ thần. Đó là nguyên nhân khiến một Đại thiền giả thoái hóa thành một người rất thường tục”.

Nói thế xong ngài biến khỏi tầm nhìn.
 
Cái thấy và Thiền định Đại toàn thiện

Kính lễ Đạo sư,

Cái thầy và Thiền định Đại toàn thiện có thể được diễn giải bằng nhiều, nhiều cách, nhưng đơn giản việc duy trì tinh túy của sự nhận biết trong hiện tại gồm chứa tất cả chúng.

Tâm của con không thể tìm thấy ở đâu khác.

Nó chính là bản tính của sự suy nghĩ từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

Hãy nhìn một cách trần truồng cốt lõi của sự suy nghĩ này và con sẽ tìm thấy sự nhận biết hiện tại, ngay tại nơi con ở.

Tại sao lại phải chạy theo các suy nghĩ, chúng chỉ là những gợn sóng bề mặt của sự nhận biết hiện tại?

Hơn thế, hãy nhìn thẳng vào bản tính trần truồng, trống rỗng của các ý nghĩ; khi đó sẽ không có nhị nguyên, không người quan sát, không có gì được quan sát.

Đơn giản chỉ nghỉ ngơi trong sự nhận biết hiện tại trong suốt và bất nhị này.

Hãy như đang ở nhà mình trong trạng thái tự nhiên của sự đơn giản hiện diện, chỉ đang là, không làm cái gì đặc biệt cả.

Sự nhận biết hiện tại thì trống rỗng, rộng mở và sáng tỏ; nó không phải là vật chất cụ thể, nhưng cũng không phải là không có gì cả.

Trống rỗng, nhưng hoàn toàn nhận biết, sáng tỏ, tỉnh thức.

Giống như, thật kỳ diệu, không bởi cố gắng để nó trở nên nhận biết, mà là nhận biết tự có, sự nhận biết liên tục hoạt động.

Hai mặt này của sự nhận biết hiện tại hay Rigpa – tính trống rỗng của nó và tính nhận biết ( sáng tỏ) của nó – là không thể phân chia.

Trống rỗng và sáng tỏ (nhận biết) là không thể chia tách.

Chúng không có hình tướng, giống như không có gì cả, không nắm bắt được, không sinh ra, không mất đi; nhưng thoáng đãng, sáng rõ, sống động.

Không có gì cả, nhưng thật tuyệt diệu!, tất cả mọi thứ được kinh nghiệm một cách kỳ diệu.

Đơn giản là nhận ra nó.

Nhìn vào tấm gương huyền ảo của tâm và thưởng thức sự trình diễn kỳ diệu vô tận này.

Với sự chánh niệm liên tục, chú ý, duy trì sự nhận thức về tính giác trống rỗng, rộng mở, sáng tỏ.

Đừng tu tập gì khác.

Không có gì khác để làm, hoặc để sửa lại.

Hãy để nó tiếp tục tự nhiên.

Đừng làm hỏng nó bằng điều khiển, kiểm soát, can thiệp vào nó, hay lo lắng xem mình đang đúng hay sai, hoặc đang có sự thiền định tốt hay tồi.

Hãy để nó như nó là, và nghỉ ngơi cái tâm mệt mỏi của mình.

Sự sáng tỏ tối thượng của Pháp thân – sự thật tuyệt đối – thì không có gì hơn là chính bản tính của cái tâm bình thường không trù tính hay sắp xếp gì này.

Đừng tìm Đức Phật ở đâu khác.

Nó không là gì khác ngoài cái bản tính của sự nhận biết hiện tại này.

Đó là vị Phật ở bên trong.

Có vô số giáo pháp.

Có vô số đối trị cho nhiều dạng khác nhau của các căn bệnh tâm linh.

Có rất nhiều ngôn từ về giáo lý bất nhị của Đại Thủ Ấn và Đại Toàn Thiện.

Nhưng gốc rễ, trái tim của mọi thực hành đã được bao gồm ở đây, đơn giản duy trì bản tính sáng tỏ tự nhiên của sự nhận biết hiện tại này.

Nếu con tìm ở đâu khác một cái gì tốt hơn, một vị Phật siêu việt hơn sự nhận biết hiện tại này, con đang đánh lừa chính mình.

Con đang bị trói buộc, vướng mắc vào dây gai của hi vọng và sợ hãi.

Vì vậy hãy từ bỏ chúng! Đơn giản duy trì sự tỉnh giác hiện tại, khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

Sự tận hiến, lòng từ bi và hoàn thiện các đức hạnh và trí tuệ là những phương pháp hỗ trợ quan trọng nhất để hoàn thành giáo lý bất nhị trần truồng này về sự nhận biết hiện tại, Pháp thân tự có.

Vì vậy hãy luôn tận hiến mình cho việc thực hành giáo pháp để làm lợi lạc cho người khác và áp dụng thân, khẩu, ý của mình vào những gì đức hạnh và lành mạnh.

Mong điều lành tăng trưởng.

Mong mọi chúng sinh đều an lạc!

Đức Jamgon Kontrul Rinpoche đệ nhất. Jamgön Kongtrül Lodrö Thayé (1813-1899)
 
Địa Ngục theo cách giải thích của Phật giáo:

Theo kinh điển Phật giáo thì địa là chỗ còn ngục là hình phạt đau khổ. Vì thế khi chúng sinh khi còn sinh tiền tạo quá nhiều nghiệp ác thì sau khi chết phải thọ sanh vào chỗ chịu những hình phạt đau khổ thì đó gọi là địa ngục. Cũng theo Phật giáo thì Địa Ngục không phải là cõi giới có 18 tầng với bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa lăm le để trừng phạt con người như người Trung Hoa đã vẽ trong kinh sách. Thật ra Địa Ngục chỉ do Nghiệp Thức biến hiện bởi vì tự thể chính địa ngục cũng chỉ là cái Không. Khi một người chết thì thần thức thoát khỏi thân xác trong một trạng thái mơ hồ, tối tăm mê muội trong khoảng ba, bốn ngày.

Lúc bấy giờ chính thần thức cũng không nghĩ rằng mình đã chết và dĩ nhiên cũng không biết mình sẽ đi về đâu. Những nghiệp thức hiện đến làm cho thần thức cảm nhận những điều ghê sợ. Lúc bấy giờ có một thứ gió Nghiệp (Nghiệp Phong) nhẹ nhàng thổi đến đưa nghiệp thức vào nơi không phương hướng bềnh bồng như một con thuyền không người lái trên đại dương mênh mông. Tiếp theo là những vầng sáng lạ lùng tỏa ra hòa với những âm thanh kỳ lạ mà thần thức chưa từng được nghe thấy như lúc còn sống ở thế gian. Chưa hết những hình tượng đầy vẻ ma quái rùng rợn của những con vật mình người đầu thú, hung tợn, gầm gừ như muốn nhảy tới phanh thây, nhai nuốt người chết. Sau cùng là những khối lửa lớn ngùn ngụt phụt lên từ mọi phía cùng với giông tố sấm sét chớp lòa làm cho Thần Thức kinh hoàng. Tất cả những hiện tượng kinh hoàng đó thật ra đều do nghiệp lực mà chiêu cảm nhưng Thần Thức không biết mà tin là thật cũng giống như nếu để một em bé trước một cái TiVi lớn có hình ảnh sấm sét kinh hồn làm cho đứa bé tin là thật mà khóc thét lên.

Vì do nghiệp lực chiêu cảm và Thần Thức vẫn còn mê mờ tăm tối nên nó càng thấy nhiều cảnh tượng kinh hoàng làm cho nó càng sợ hãi và tìm cách trốn tránh bất chấp đó là chỗ nào. Bây giờ nếu nghiệp cảm của người chết muốn sinh vào cõi địa ngục thì trong thời điểm nầy Thần Thức sẽ thấy một khoảng mờ ảo với âm thanh trầm buồn lặng lẽ. Thần Thức nghĩ rằng đây chính là một nơi yên lành có thể dung thân trong giai đoạn nguy hiểm nên mới dấn thân vào đó.Từ đó tất cả những nghiệp thức sẽ phát sinh ra những cảnh giới như nhà cửa, đường xá… Thần thức sẽ thấy những căn nhà có màu sắc đen hay trắng đục và có vẻ mờ ảo lung linh. Còn đường xá thì như chìm dưới lớp sương màu xám tro và thỉnh thoảng lộ ra những đoạn gập gềnh, hang lỗ tối đen. Cảnh vật nơi đây thì vô cùng lạnh lẽo, âm u và vắng lặng và cũng có nơi nóng ran như thiêu đốt. Dần dần Thần thức cảm nhận những sự nóng lạnh rất rõ ràng như khi còn sống ở thế gian. Nếu người chết bị đọa vào Hỏa ngục thì Thần Thức trước tiên cảm nhận một sự lạnh lẽo ghê hồn xuyên qua Thân Trung Ấm khiến họ mong mỏi có cơ hội thoát khỏi cái lạnh khủng khiếp nầy. Tư tưởng nầy vừa xuất hiện đã làm phát sinh một làn hơi nóng ấm từ đâu đó thoát ra khiến họ vô cùng mừng rở và dĩ nhiên Thần Thức vội vàng tìm đến đó. Thế là họ tức thì rơi vào Hỏa ngục mà chính họ không hay biết gì. Nên nhớ tất cả những cảnh tượng chợt biến chợt hiện đó đều do Nghiệp Cảm tạo thành cho nên khi lòng nghĩ đến điều gì thì hình ảnh liên quan sẽ hiện ra như có thật trước mắt. Thân Trung Ấm là thân không có xác thịt mà chỉ lấy tư tưởng làm thân nên tất cả đều không thật mà chỉ là giả tướng. Nếu đã là không thật thì không có gì phải khiếp sợ. Người có tu đạo thì họ làm chủ được Thần Thức của mình nên dễ dàng tránh xa những cảm nhận thích nghi với những âm thanh và ánh sáng dễ chịu mà thoát ra khỏi lục đạo.Nếu lỡ đã sa vào Địa ngục hay chạm trán với quỷ sứ Ma Vương thì cũng chỉ là đối diện với hư ảnh mà thôi. Bởi vì tất cả những hình tượng ấy đều do nghiệp thức biến hiện và tự thể của nó là không thật. Nhưng trong thật tế hầu như tất cả mọi người khi chết đều rung sợ và mê mờ tối tăm trước những hình ảnh hư ảo ở cõi âm. Một lần nữa, kinh điển Phật giáo cho biết là địa ngục không phải là nơi có các quỷ sứ hiện diện để moi tim, móc ruột, chặt tay, cưa chân hay thả tội hồn vào vạt dầu…Mà Địa Ngục chỉ là nơi tối tăm mà con người khi chết phải vào đó để thọ lãnh những đau khổ mà họ đã tạo tác trong khi còn sinh tiền.

Nói một cách khác theo tinh thần Phật giáo thì Địa Ngục không có quỷ sứ xử phạt kẻ có tội với những cực hình thê thảm mà thật ra Địa Ngục chính là cõi thế gian mà loài người đang sống. Từng giây, từng phút và từng ngày họ phải thọ báo những đau khổ, những xấu xa, những tội lỗi mà nghiệp báo đã chuyển đến cho họ sau khi họ được tái sinh. Đây chính là Địa Ngục trần gian vậy. Biết bao người hằng ngày phải sống trong thiếu thốn khổ đau. Họ bị đọa đày từ tinh thần đến xác thân thì có phải đây là địa ngục chăng? Trong kiếp quá khứ chúng ta gây nên ác nghiệp nên bây giờ thân phải chịu bệnh tật hiểm nghèo. Có người vì bệnh mà phải chịu mổ xẻ tim, gan, thận, cắt tay, cắt chân, mổ óc…Đây có phải là giống như cảnh chặt tay, cưa chân, móc óc trong cảnh địa ngục chăng? Có người trong tiền kiếp gây ra nghiệp sát hại nên khi qua đến kiếp nầy phải bị sát hại mà tệ hại hơn nữa là bị sát hại ngay khi còn nằm trong bụng mẹ tức là phá thai. Đây có phải là địa ngục chăng?

Trong cuốn Hồi Dương Nhân Quả của Linh Tự Kỳ và sách Địa Ngục Du Ký xuất bản đời nhà Đường có ghi lại những lời đối thoại của Tế Phật cho một nhân vật tên là Dương Sinh nghe về cảnh giới của địa ngục. Dựa theo sách nầy thì địa ngục gồm có 10 điện chính và mỗi điện có 16 ngục. Sách diễn tả khá rõ ràng về kích thước và cảnh giới của mỗi điện địa ngục. Thêm nữa sách nầy cũng mô tả những gì liên quan đến cõi Diêm phù mà từ lâu trong thế gian thường hay nói đến. Chẳng hạn như cây cầu ở chốn địa ngục mà người Việt Nam hay Trung Hoa thường gọi là cầu Nại Hà. Cầu Nại Hà nầy là một trong 6 cây cầu chính ở địa ngục. Cầu treo lơ lửng trên cao và người chết vào địa ngục thì phải đi qua cầu nầy. Các quỷ sứ có nhiệm vụ áp giải tội hồn đi qua cầu.

Khi tội nhân tới giữa cầu thì các tội hồn nầy sẽ bị quỷ sứ đẩy xuống vực sâu thăm thẳm. Nơi đó vô cùng tối tăm lạnh lẽo và đầy rắn độc. Còn những kẻ ác ở thế gian khi chết đi qua cầu nầy tự nhiên tâm thức kinh động nên tự nhào xuống vực chớ không cần quỷ sứ xô xuống. Khi xuống đến địa ngục thì có 18 tầng và còn thêm 16 tiểu ngục nữa để trừng phạt tội hồn. Có lẻ tất cả đều là do óc tưởng tượng của người Trung Hoa vì có ai xuống được địa ngục rồi trở về để ghi chép quá chi tiết như thế bao giờ? Nằm mơ, nằm mộng kể lại thì ai nói gì chẳng được. Đạo Phật là đạo giải thoát mà cứ ôm khư khư những tư tưởng kinh hồn, khiếp vía ràng buộc cứng ngắt như thế thì làm sao giải thoát cho được. Riêng đối với các nhà khoa học thì quan niệm về Địa Ngục quả là một quan niệm chứa đầy tính chất siêu hình. Khó có ai thấy được rõ ràng trước mắt cõi Địa ngục và khó có ai chụp được hình ảnh của cõi Địa ngục. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu về các hiện tượng siêu linh huyền bí cũng chỉ ở giai đoạn thu thập các tư liệu liên quan đến những gì gọi là cõi giới bên kia cửa tử mà chúng ta gọi là Địa ngục mà thôi.
 
Cổ nhân dạy rằng, khi kết giao bạn bè, đối nhân xử thế, cần phải hiểu rõ tính cách con người. Người xưa trong giáo dục làm người thường dùng quân tử làm hình mẫu nhân vật để hướng đến, rời xa kẻ tiểu nhân. Vậy làm thế nào để nhận ra người quân tử và kẻ tiểu nhân?



Người quân tử luôn hiểu rõ chân lý nhân sinh. Vô luận là ở vào hoàn cảnh nào họ cũng luôn tôn trọng các chuẩn mực đạo đức trong việc làm và tự kiểm soát bản thân bằng cách tuân theo những lời dạy của các bậc thánh hiền.

Bất cứ nơi nào họ đến, họ đều lan tỏa lòng tốt và sự ảnh hưởng đến những người mà họ tiếp xúc, để người ta tôn thờ đạo đức và công lý. Hiệu quả và sự ảnh hưởng của những lời dạy ấy đã khắc họa rõ phẩm chất đạo đức của họ. Còn kẻ tiểu nhân thì hoàn toàn ngược lại, chỉ cần điều gì có lợi cho bản thân thì những tiêu chuẩn về đạo đức họ đều xếp ở vị trí thứ yếu.

Người quân tử nói bằng hành động, lời nói đi đôi với việc làm. Trong tất cả lời nói và việc làm, họ đều thực hiện theo những chuẩn mực mà bậc thánh nhân đã dạy.

Kẻ tiểu nhân chỉ giỏi nói miệng mà thôi. Kẻ ấy chỉ giỏi yêu cầu và chỉ trích của người khác, trong khi lại chẳng làm gì cả.

Người quân tử đối nhân xử thế bằng sự chân thành. Khi nhìn thấy bạn bè của mình vi phạm đạo đức, người đó sẽ cảnh báo những hậu quả mà bạn mình phải gánh chịu và khuyên bạn hành động theo lương tâm. Lời nói của họ là phát xuất từ trong tâm bởi vì họ thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Kết quả là tình bạn sẽ ngày càng sâu sắc hơn.

Còn kẻ tiểu nhân thì lại thường kết thành bè đảng để gây rối. Thoạt nhìn bề ngoài thì họ như là một thể thống nhất nhưng kỳ thực họ lại không ngừng đổ lỗi và đâm sau lưng nhau.”


Người quân tử không xuôi theo dòng nước, huống hồ là thông đồng với kẻ khác. Tất cả những gì họ nghĩ đến là làm thế nào để thực hành đạo nghĩa. Còn kẻ tiểu nhân thì lúc nào cũng chỉ lo nghĩ cho bản thân. Người quân tử tôn trọng phép tắc và quy củ. Kẻ tiểu nhân luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên hết thảy mọi thứ, và tâm kẻ ấy chứa đầy những món lợi nhỏ nhen.

Lời nói và hành động của một người đều dựa trên những suy nghĩ của người đó. Một người quân tử luôn nuôi dưỡng những suy nghĩ tốt đẹp và lẽ phải. Lời nói và hành vi của người đó là kết tinh của tình thương, lòng tốt và sự vị tha. Ở những nơi nào người quân tử đến, những suy nghĩ tinh khiết, tốt đẹp của họ sẽ lan tỏa ra những người xung quanh, thức tỉnh lương tâm của mọi người, gieo những hạt giống của sự chính trực và lòng nhân ái.

Người quân tử xưa nay đều tự xét lại bản thân mình, kẻ tiểu nhân không nhìn lại bản thân mình mà thường xuyên oán trời trách đất, trách người, trong lòng tràn đầy bực tức. Một chính nhân quân tử, thường xuyên tìm những thiếu sót ở bản thân mình mà không trách cứ người, khi đó người ấy dù không tu đạo nhưng đã ở trong đạo rồi.

Người quân tử nghĩ về đức hạnh, kẻ tiểu nhân truy cầu hưởng thụ. Người quân tử nghĩ về đạo lý, kẻ tiểu nhân truy cầu những đặc ân mà hắn có thể kiếm được.

Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử viết rằng “đức hạnh” là sự khác biệt lớn nhất giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân. Khổng Tử dạy nhìn vào những điểm dưới đây để phân biệt:

1. Phẩm chất
Khổng Tử nói: “Người quân tử yêu cầu chính là bản thân, kẻ tiểu nhân yêu cầu chính là mọi người”. Tức là khi xảy ra vấn đề, xảy ra mâu thuẫn, người quân tử sẽ tự xét lại, nhìn lại bản thân mình xem có lỗi gì không, tìm kiếm sai sót ở bản thân mình từ đó sửa chữa và không ngừng tiến bộ.

Kẻ tiểu nhân thì ngược lại, luôn nhìn vào người khác, đổ lỗi trách cứ người khác mà không nhìn lại mình. Họ yêu cầu người khác rất cao nhưng lại không có yêu cầu gì cho bản thân và dần dần họ sẽ rơi rớt xuống phía dưới, không có tiến bộ.

2. Trí tuệ
Người quân tử trước sau đều giữ vững mình, không lay động. Kẻ tiểu nhân luôn luôn ở trong suy tư lo nghĩ. Người quân tử lòng dạ quang minh chính đại, rộng rãi, khí an thần định. Kẻ tiểu nhân lúc nào cũng tính toán so đo, suy tính thiệt hơn cho nên thường xuyên “mặt mày ủ rũ”.

Người quân tử luôn khoan dung, không thù hận người khác, lạc quan tươi vui cho nên họ “ngẩng mặt lên không xấu hổ với trời, cúi mặt xuống không thẹn với đất”. Kẻ tiểu nhân trong lòng luôn có sự tình nào đó chất chứa, ấp ủ, luôn cảm thấy người khác không phải, xã hội không phải với mình, cảm thấy người khác hơn mình là không thể chịu được nên luôn toan tính nghĩ suy.

3. Kết giao
Người quân tử giúp người mà không so đo tính toán, kẻ tiểu nhân so đo tính toán mà không giúp đỡ người. Người quân tử hòa mình chứ không cùng người khác câu kết, móc ngoặc nhưng kẻ tiểu nhân lại câu kết với người khác mà không hòa mình cho dù bề ngoài thì tưởng như hòa mình với mọi người.

Làm như vậy là bởi vì, người quân tử khi kết giao với ai cũng dùng tấm lòng ngay thẳng chính trực, đối xử công bằng với tất cả mọi người. Kẻ tiểu nhân lại muốn kết bè phái với những người có cùng tư tưởng mục đích với mình, gạt bỏ người đối lập, để làm những điều sai trái, hại người lợi mình.

4. Lời nói và hành vi
“Người quân tử hòa mà không đồng, kẻ tiểu nhân đồng mà không hòa”. Ý nói rằng, người quân tử có thể lấy “đạo nghĩa” mà bao dung hết thảy các ý kiến, cũng không giấu diếm quan điểm bất đồng của mình, chân thành đối xử với người khác, từ đó xây dựng một bầu không khí hài hòa. Kẻ tiểu nhân thường có thói quen nói theo ý người khác, vào hùa và phụ họa theo nhưng trong lòng lại không nghĩ giống như lời nói, bằng mặt không bằng lòng.

5. Tiêu chuẩn
Điều mà người quân tử coi trọng là đạo nghĩa còn điều mà kẻ tiểu nhân xem trọng chính là lợi ích. Khi gặp một vấn đề hay một lựa chọn nào đó, người quân tử trước tiên sẻ dùng tiêu chuẩn “đạo nghĩa” để cân nhắc, cuối cùng mới lựa chọn. Kẻ tiểu nhân gặp vấn đề cần lựa chọn thì trước tiên nghĩ xem nó có lợi cho bản thân như thế nào.

6. Khí chất
Người quân tử rộng lượng mà không kiêu, kẻ tiểu nhân kiêu căng nhưng lại nhỏ hẹp. Người quân tử ung dung bình thản mà không kiêu ngạo, kẻ tiểu nhân kiêu ngạo nhưng trong lòng không yên. Mấy ngàn năm trước, Không Tử dạy rằng “chủ yếu nhìn vào khí chất” để phân biệt người.

Người quân tử trang trọng, tâm thái bình thản, “khí định thần nhàn”, không có cảm giác kiêu căng ngạo mạn. Kẻ tiểu nhân ngạo mạn, tự cao tự đại, luôn công kích người khác.

7. Lựa chọn
Người quân tử cho dù ở vào bước đường cùng vẫn kiên trì nguyên tắc làm người, kẻ tiểu nhân gặp lợi ích liền làm xằng làm bậy. Dựa vào cách lựa chọn cũng có thể nhìn ra quân tử và ngụy quân tử. Càng là ở vào hoàn cảnh khó khăn cực điểm, càng có thể nhìn thấu được phẩm chất của một người.

8. Chí hướng
Người quân tử luôn hướng lên, hướng xa còn kẻ tiểu nhân thì lại mỗi ngày sa xuống dưới. Hay nói cách khác, người quân tử thuận theo Thiên lý nên ngày càng cao minh hơn, còn kẻ tiểu nhân lại thuận theo dục vọng của bản thân nên ngày càng đi xuống.

Người xưa nói, làm người, chí phải đặt ở cao xa. Một người đặt chí hướng ở nơi cao xa thì được gọi là “thượng đạt”, còn đặt ở nơi thấp thì được gọi là “hạ đạt”. Hướng về phía trước ở đây là hướng thiện, không ngừng sửa sai lầm, theo đuổi đạo nghĩa. Hướng về phía dưới là không biết sửa sai, không biết tu thân dưỡng tính, ngày một sa sút, bại hoại.

9. Truy cầu
Điều mà người quân tử suy nghĩ và lo âu chính là “đức hạnh”, điều mà kẻ tiểu nhân đăm chiêu lo nghĩ chính là bổng lộc, lợi ích. Người quân tử luôn cân nhắc để không phạm pháp, vi phạm đạo đức, kẻ tiểu nhân làm mọi cách để giành được lợi ích cho bản thân. Chính vì vậy, kẻ tiểu nhân tuy được cái lợi trước mắt nhưng sẽ phải trả giá hơn điều nhận được.

10. Nhường nhịn
Cổ nhân giảng: Người học rộng biết nhiều mà lại có thể khiêm nhượng, nhường nhịn người khác, đối với việc thiện thì không bê trễ, người như vậy cũng được xưng là người quân tử. Nhường nhịn là khí chất của người quân tử. Người quân tử không yêu cầu người khác mà ở bất cứ lúc nào, việc nào đều tự yêu cầu bản thân mình, không làm việc có lỗi, như thế giao tình mới có thể được duy trì lâu dài.

Đạo nhường nhịn có ý nghĩa rất rộng lớn, nhưng có thể hiểu theo nghĩa thông thường là sự nhún nhường, nhường nhau theo nghi lễ, sự nhường nhịn…

Trong “Tả truyền” viết: “Nhường là đứng đầu trong lễ.” Trong “Lễ ký” cũng viết: “Người quân tử cung kính, tiết kiệm, thoái nhường bởi vì thấu hiểu lễ.”

Người xưa cũng viết: “Có điều ức mà không dám bất chấp thì chính là ước thúc, khắc chế bản thân, có hạn định mà không dám vượt qua thì đó là lễ tiết.” Ý nói, người quân tử ngoài đối với người khác phải cung kính thì đối với bản thân phải biết khắc chế, dùng thái độ khiêm nhượng để thể hiện lễ tiết của mình.

Trong “Dịch. Khiêm” viết rằng: “Khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục dã”, ý nói người quân tử lấy thái độ khiêm tốn để giữ mình, tu dưỡng mình, cho mình là thấp hơn người khác.

Trong “Lễ ký” cũng viết: “Trưởng giả vấn, bất từ nhượng nhi đối, phi lễ dã”, ý nói rằng khi người bề trên mà hỏi, nếu không khiêm nhường một chút mà trả lời thì sẽ không hợp lễ.

Trong đó cũng viết: “Phàm dữ khách nhập giả, mỗi môn nhượng vu khách”, ý nói khi cùng khách vào cửa thì phải nhường người khách vào cửa trước, ấy mới là hợp quy định của lễ.

Trong “Tự hối” ghi rằng: “Tiên nhân hậu kỷ vị chi nhượng”, tức là người trước mình sau thì được gọi là nhượng (nhường).

Trong lịch sử có rất nhiều bậc anh hùng, quân tử, có thể nhẫn nhịn việc nhỏ mà làm được việc lớn. Cũng có rất nhiều người sẵn sàng từ bỏ tước vị, bổng lộc mà nhường lại chức vị của mình cho người hiền tài.
 
Trốn lệnh truy nã, tiếp tục gây tội ác, tự xưng là “doanh nhân thành đạt”


LÊ MINH ĐỨC TỘI PHẠM TRUY NÃ 16 NĂM



Tại Kharkov Ucraina tất cả bà con cộng đồng chúng ta không ai mà không biết đến sự bạo hành của Lê Minh Đức và đồng bọn, chính chúng đã lập ra nhiều tổ chức nhằm che đậy những hành vi tội ác và trấn áp bà con cộng đồng cũng như qua mặt các cơ quan bảo vệ luật pháp. Lê Minh Đức dùng tiền mua các thế lực đen, các quan chức biến chất chèn ép bẻ gãy tất cả các sự chống đối để đạt mục đích tới cùng. Đến khi bị công an Việt Nam bắt Lê Minh Đức được một số tổ chức, công ty cá nhân (của chính Lê Minh Đức và đồng bọn) gửi đơn bảo lãnh đã làm cho các cơ quan chức năng bảo vệ luật pháp Việt Nam “bối rối” trong việc phân định trong thời gian trốn lệnh truy nã Đức là người tốt hay là kẻ xấu?. Vì vậy chúng tôi xin tóm lược “thành tích” của Lê Minh Đức trong thời gian trốn lệnh truy nã tại Ucraina để bà con cộng đồng bình luận, phản ảnh đúng sự thật góp phần để các cơ quan luật pháp Việt Nam có cơ sở mà quan tâm, chiếu cố đúng người đúng tội đối với Lê Minh Đức và đồng bọn của anh ta.
Vào tháng 3 năm 1991 Lê Minh Hiếu phạm tội đặc biệt nghiêm trọng tại Nam Định, trong khi được tại ngoại để điều tra Hiếu đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú cho nên cơ quan bảo vệ luật pháp Việt Nam đã phát lệnh truy nã vào ngày
15/5/1993. Hiếu chạy trốn sang nước Nga bằng tàu thủy đến Vladivostok và sống ở đó 1 năm. Sau đó chuyển về Moscow, ở Moscow Hiếu được một nhân vật khá nổi tiếng cưu mang giúp đỡ tên gọi là Bảo(sedoi) tại đây Lê Minh Hiếu đổi tên thành Lê Minh Đức để tránh cơ quan điều tra Việt Nam phát giác. Đến năm 1994 cơ quan tình báo Việt Nam đã biết được Hiếu đang trốn ở Moscow nhưng Bảo(sedoi) đã biết được Hiếu bị lộ nên dùng tiền đút lót cho một nhân viên sứ quán ở Moscow, dùng ông này liên hệ với Phạm Nhật Vượng, Lê Viết Lam, từ đó Bảo(sedoi) lập tức thông đồng với Vượng, Lam để chuyển Lê Minh Đức về Kharkov. Lúc này ở Kharkov cơ quan bảo vệ luật pháp của bạn cũng truy lùng tội phạm Việt Nam cho nên Vượng và Lam phải chuyển Lê Minh Đức xuống Chernovsi tạm trốn ở đấy chờ đợi. Đến cuối năm 1995 Đức quay về Kharkov ở tại ốp Vinaco tụ tập nhóm đầu gấu đồng hương Nam Định và tiếp tục ngựa quen đường cũ chuyên đòi nợ thuê, tổ chức cờ bạc, cướp chiếm đoạt tài sản của người Việt Nam thân cô thế cô. Với bề dày thành tích bất hảo như vậy nên Lê Viết Lam và Phạm Nhật Vượng đã sử dụng Đức vào đội bảo vệ ốp Vinaco, thậm chí có lúc Đức sử dụng vũ khí nóng, cụ thể có một trường hợp xảy ra năm 1995 ở ốp Vinaco Đức đã dùng PM bắn ông Tới cậu của Phạm Nhật Vượng vì lý do ăn chia gì đó không công bằng. Với bề dày tiền án tiền sự, trốn lệnh truy nã và tính gan lì của Lê Minh Đức nên Đức đã được Lam-Vượng trọng dụng. Vào đầu tháng 7 năm 1996 Đức được phân công ra chợ quản lí việc đặt công chỗ và bán cho dân, lúc này Đức đã phát huy hết tính lưu manh trộm cướp của mình để phục vụ cho việc tranh dành chợ cho 2 ông chủ là Lam và Vượng. Từ ngày đó Lê Minh Đức lên như diều gặp gió, là tay sai đắc lực cho Phạm Nhật Vượng và Lê Viết Lam để khống chế dọa nạt bóc lột bà con cộng đồng Việt Nam tại Kharkov. Nhờ sự giúp đỡ của Vượng và Lam, Đức có được đại bản doanh ở phố Fonvizina 16a, quận Komminteskaja. Đức nổi tiếng và là nhân vật đứng thứ tư sau Vượng, Lam và Bình.
Để thuận tiện trong việc giằng mặt chèn ép chiếm đoạt tài sản của bà con cộng đồng một cách hợp pháp Lê Viết Lam đã đưa Đức vào Hội người Việt Nam tỉnh Kharkov với chức danh Trưởng ban chống tệ nạn xã hội (Ban hòa giải). Bất cứ vụ việc gì xãy ra trong cộng đồng đều qua tay anh ta sử lý và anh ta dựa vào cớ bà con có lỗi để trấn lột dưới hình thức phạt vạ thật cao. Thậm chí xử ép bức tử chị Hoàng Thị Thủy vào ngày 7/3/2000, Lê Minh Đức đứng đằng sau bảo kê cho các tay “làm xe” chuyển hàng bất hợp pháp qua biên giới cũng như là chủ đội làm xe chuyển hàng trong nội địa Ucraina, nhiều vụ chuyển hàng sang biên giới đã bị các tay vận chuyển bán mất và được bồi thường cho chủ hàng một cách lấy lệ, khi bị dân kiện với chức vụ là trưởng ban hòa giải Đức lại là người “xét xử” Đức đã đứng ra dàn xếp tất nhiên phần thắng luôn thuộc về các đàn em của anh ta. Cũng như nhiều vụ bà con mang tiền với số lượng lớn đi lấy hàng đã bị công an bạn “tóm gọn” một cách đầy bí ẩn, sau đó Lê Minh Đức lại đích thân đi “thương lượng” may mắn lắm bà con được trả lại 20% số tiền bị mất còn thông thường là trắng tay, trong khi theo qui định của luật pháp bà con mang tiền Grip không phải là một điều phạm pháp. Ngoài ra Lê Minh Đức còn chủ mưu nhiều vụ lừa đảo: Vào cuối 2005 Nguyễn Thị Thân con gái Chủ tịch Hội người Việt Nam Nguyễn Văn Thành (Ngoáy) đã lừa đảo hơn 1 triệu đôla trong khi giấy tờ của Nguyễn Thị Thân bị các chủ nợ thu giữ nhằm không cho Nguyễn Thị Thân bỏ trốn nhưng với cương vị là trưởng ban chống tệ nạn xã hội Lê Minh Đức đã yêu cầu các chủ nợ phải giao lại giấy tờ tùy thân của Nguyễn Thị Thân để anh ta quản lí, sau đó Nguyễn Thị Thân đã rời khỏi Ucraina một cách an toàn mà không ai hay biết, khi phát hiện Nguyễn Thị Thân biến mất các chủ nợ biết Đức là chủ mưu của vụ việc trên nhưng không dám phán ứng. Vào đầu năm 2007 vụ Nguyễn Văn Hùng (Hùng Sài gòn) bỏ trốn vì lừa đảo hơn nửa triệu đôla trong đó vai trò thể hiện rõ của Lê Minh Đức là đích thân anh ta đã đứng ra bảo vệ cho Vũ Đức Chính ở ốp Bánh mì cũ ( PTU25) là em họ của Sơn chánh văn phòng tập đoàn Technocom vì Vũ Đức Chính và Nguyễn Văn Hùng đã thế chấp ôtô của Vũ Đức Chính để vay của Tây 30.000 đôla, Đức âm mưu ra lệnh cho Vũ Đức Chính quịt nợ bằng cách lấy lại ôtô và đổ tội hết cho Nguyễn Văn Hùng (đã chạy trốn), đồng thời chuyển gia đình của Vũ Đức Chính vào sống trong Làng thời đại dưới sự bảo vệ của Lê Minh Đức để tránh sự truy tìm của chủ nợ. Vụ việc này đã có đơn gửi đến các cơ quan luật pháp Ucraina cũng như gửi đến Đại sứ quán Việt Nam nhưng tất cả đều bị Đức mua chuộc nên đến hôm nay vẫn chưa được giải quyết. Cũng vào thời điểm này Lê Minh Đức cùng Lê Viết Lam bật đèn xanh cho Nguyễn Thị Mến quịt nợ hơn 4 triệu đôla của bà con cộng đồng dưới hình thức tuyên bố phá sản, và chính Lê Viết Lam, Lê Minh Đức đứng ra nghiêm cấm các chủ nợ không được đụng chạm đến bà ta “để cho cho bà ta làm ăn đến khi nào có tiền thì sẽ trả…” điều này đã làm cho nhiều chủ nợ ngậm đắng nuốt cay, biết mình bị cướp nhưng không thể làm gì được vì sợ Lê Minh Đức hãm hại.
Lê Minh Đức đã tích cực cùng với Lê Viết Lam và đồng bọn chiếm đoạt tài sản của bà con cộng đồng một cách trắng trợn với qui mô lớn mà có thể nói rằng “độc nhất vô nhị” trên thế giới này, bọn chúng đã khống chế cả cộng đống với một thời gian kỷ lục hơn mười mấy năm nay mà vẫn chưa được cơ quan luật pháp nào để mắt đến. Những tội ác đó là các vụ lừa đảo bán cổ phiếu năm 2002, thu hồi công chỗ trái phép năm 2006, lừa bán cửa hàng cửa hiệu chiếm đoạt hàng trăm triệu đôla của bà con cộng đồng. Hàng loạt đơn thư đã được gửi đi đến tất cả các cơ quan chức năng kể cả Đại Sứ quán Việt nam cũng đều rơi vào im lặng một cách khó hiểu, thậm chí những người gửi đơn lên Đại sứ quán đã bị Lê Minh Đức triệu tập lên Hội người Việt Nam răn đe dọa nạt, cấm buôn bán tại chợ Barabasova…. Trong vòng 10 năm từ một tên tội phạm trốn lệnh truy nã Lê Minh Đức đã giàu kếch xù, sở hữu nhiều bất động sản và làm chủ nhiều công ty. Anh ta từng tuyên bố “thừa tiền để mua tất cả, kể cả mạng sống của con người” Lê Minh Đức cùng Lê Viết Lam và đồng bọn đã dựng lên nhiều công ty như: Công ty Sun Group, Sun City, Sun Mark, Vinamex, FTD, Nora, Vincom, Winper land…. Hội người Việt nam tỉnh Kharkov, Ban chống khủng hoảng, Quỹ ngôi sao phương đông, Hội doanh nhân….Tất cả các tổ chức hội hè hay các công ty ở Kharkov là 100% thuộc sở hữu của Lê Minh Đức và đồng bọn. Chúng tự bầu bạn với nhau và Lê Minh Đức trở thành Chủ tịch Hội doanh nhân tỉnh Kharkov. Vào năm 2009 do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thu nhập tại chợ Barabasova giảm sút hẳn trong khi nhiều chi phí và lãi suất ngân hàng cần phải thanh toán Lê Minh Đức đã kết hợp với một số quan chức biến chất liều lĩnh âm mưu trục lợi cả cộng đồng trên diện rộng dưới hình thức hủy gần 1000 thẻ định cư của bà con. Điều này được khẳng định là do Đức chủ mưu vì có nhiều thông tin được xác thực như: Tiêu diệt những người làm dịch vụ (Trường hợp anh Phùng Đức Bảo), dựng Nguyễn Tiến Phúc lên làm trưởng văn phòng luật, Trưởng công an hộ khẩu thành phố được Đức mời đến tại văn phòng Hội người Việt Nam, trước bà con cộng đồng ông ta khẳng định rằng chỉ “hoàn thiện” các loại giấy tờ qua Nguyễn Tiến Phúc (nếu là giấy tờ chính qui thì chẳng có pháp luật nào trên thế giới qui định nhất thiết phải qua dịch vụ được chỉ định cả), thẻ định cư bị hủy chỉ xảy ra đối với bà con cộng đồng tại Kharkov và cho đến hôm nay số thẻ định cư này vẫn chưa có hướng giải quyết.
 
Sự việc nổi bật nhất là vụ việc Lê Minh Đức cùng Lê Viết Lam âm mưu chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Hùng Long là nhà hàng G7 trị giá cả triệu đôla, nhưng vì gặp phải ông Long là một người có trình độ học thức cao, có mối quan hệ và có ý chí sắt đá nên không chấp nhận bị cướp như những bà con khác, ông là một người trong số hơn 6000 nạn nhân dám đứng lên chống lại tập đoàn tội phạm có tổ chức này, ông đã phản ứng lại một cách mạnh mẽ đấu tranh bằng luật pháp. Những mánh lới lừa đảo bà con cộng đồng lẫn lý lịch đen về Lê Minh Đức được đưa lên trang điện tử Công lý, quá sợ hãi trước sự bị tiết lộ bí mật lý lịch đen của Lê Minh Đức trên website Công lý mà Lê Minh Đức đã dùng mọi cách để đóng cửa wedsite này. Đầu tiên Đức đã thể hiện sức mạnh của mình bằng cách “tác động mãnh liệt” vào Đại sứ quán Việt Nam, vì vậy mới có sự “quan tâm” bất ngờ và duy nhất đến người dân từ trước đến nay của Đại sứ quán đó là vào ngày 9/4/2008 Sứ quán “triệu tập” ông Nguyễn Hùng Long lên Kiev để gặp Lê Minh Đức và Ngài Đại Sứ Nguyễn Văn Thành để đóng cửa wedsite Công lý. Có lẽ vụ việc này giải quyết không thành công, vì vậy mặc dù không biết ai là chủ wedsite conglyvn.com (vì đứng tên chủ wedsite là người bản sứ) nhưng vào ngày 15/4/2008 một công văn vô lý yêu cầu ông Nguyễn Hùng Long đóng cửa trang điện tử Công lý, một điều hết sức nực cười là công văn gửi ông Nguyễn Hùng Long nhưng Lê Minh Đức lại được nhận và đăng trên các tờ báo của chúng còn bản thân ông Nguyễn Hùng Long cho đến ngày hôm nay vẫn chưa nhận được công văn này, mà ông Long chỉ biết rằng có một công văn từ Đại sứ quán gửi cho mình qua các phương tiện báo chí của Lê Minh Đức. Trong đó một điều hết sức bất bình là Lê Minh Đức đánh hơi được sự liên quan của ông Long vào cửa hàng TE 214 ở chợ Barabasova, nên Đức đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Thái chiếm đoạt luôn cửa hàng này, vụ việc này đã bị ông Long kiện lên các cơ quan chức năng nên Nguyễn Văn Thái đã vội vàng xin từ chức khỏi phó tổng giám đốc TTTM Barbasova chạy trốn về Việt nam lánh nạn để Lê Minh Đức bên này dàn xếp. Trước những áp lực đối với ông Nguyễn Hùng Long như vậy nhưng wedsite Công lý vẫn hoạt động vì trang wed này thực chất không phải của ông Nguyễn Hùng Long mà của những người đứng lên bảo vệ bà con cộng đồng phi lợi ích. Điều đáng nói là wedsite công lý đã phơi bầy tất cả tội ác của tập đoàn tội phạm cho toàn thế giới biết sự thật của cộng đồng Việt Nam đang làm ăn sinh sống tại Kharkov Ucraina. Vì không phải vàng thật nên rất sợ lửa, vì vậy Lê Minh Đức, Lê Viết Lam và đồng bọn đã cuống cuồng dùng một lượng tiền lớn hối lộ cho các quan chức thoái hóa cả Ta lẫn Tây để vu khống hãm hại ông Nguyễn Hùng Long với hy vọng sẽ đóng cửa được wedsite Công lý. Việc hãm hại này Lê Minh Đức đã phân công cho Nguyễn Tiến Phúc kết hợp với những cán bộ biến chất làm giả toàn bộ hồ sơ và bắt giam ông Long vào ngày 8/7/2008 đã làm cho cả cộng đồng phẩn nộ, nhưng tất cả các phương tiện thông tin đại chúng cũng như tất cả các cơ quan hữu quan có trách nhiệm đã im lặng một cách cố tình, còn wedsite Công lý vẫn hoạt động mạnh mẽ và được bà con đặc biệt quan tâm trong khi ông Nguyễn Hùng Long đã bị bắt giam.
Trước đây Lê Minh Đức đã về Việt Nam qua cửa khẩu Tân sơn Nhất một cách bình yên nên khi trở lại Ucraina anh ta đã tự hào khoe khoang “tiền là tất cả, có tiền cái gì cũng mua được… kể cả chính quyền Việt nam”. Vì vậy anh ta đã không ẩn mình như trước đây mà đã hoành tráng cùng đồng bọn tự ban cho mình nhiều chức vị rất oách trong đó có chức Chủ tịch hội doanh nhân Kharkov Đức đã dẫn đầu đoàn doanh nhân chân gỗ hùng dũng tiến về Việt nam trên chuyến bay ngày 8/10/2009. Khi tra tay vào còng số 8 Lê Minh Đức vẫn tin rằng đồng tiền là vạn năng. Sau 3 tháng vẫn miệt mài bóc lịch và không thoát khỏi nhà tù trở lại Kharkov tiếp tục lãnh đạo cộng đồng như lời hứa của Lê Viết Lam và đồng bọn thì Lê Minh Đức mới hiểu ra rằng pháp luật mới chính là vạn năng và chính quyền Việt Nam quá vững mạnh. Tuy nhiên hiện nay Lê Viết Lam và gia đình của Lê Minh Đức đã tung nhiều thông tin nhằm “hăm dọa” những ai dám “nổi dậy” khi nghĩ rằng rắn đã mất đầu, tung tin Đức đã “ủng hộ” cho nhà tù rất nhiều tiền nên được ở một mình một phòng riêng đầy đủ tiện nghi ti vi, máy lạnh, điện thoại, internet nối mạng toàn cầu… và vẫn đang tiếp tục điều hành công việc tại Ucraina từ nhà tù ở Việt nam. Nghe như truyện cổ tích nhưng đây cũng là một điều mà các cơ quan luật pháp của Việt nam nên quan tâm để tránh làm mất uy tín của cơ quan bảo vệ pháp luật Việt nam.
Để bổ xung tính xác thực của bài viết này chúng tôi sẽ đăng một số dẫn chứng là những bài báo và bằng chứng về những sự việc đã xảy ra.
Vì dẫn chứng rất nhiều cho nên chúng tôi sẽ cập nhật dần theo trình tự
1. Đơn tố cáo của Chủ tịch Hội Đồng Hương Đinh Văn Nết
Bên dưới là nguyên văn lá đơn tố cáo mà ngày trước bác Đinh Văn Nhời đã viết để gửi đến Ban lãnh đạo Bộ Công An Việt Nam.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Kính gửi: Ban lãnh đạo Bộ Công An Việt Nam
Tôi là Đinh Văn Nết Chủ tịch Hội Đồng Hương Việt Nam tỉnh Kharkov nước Cộng Hòa Ukraina, giám đốc công ty “Hữu Nghị” xin trình bày với quý bộ những vấn đề sau:
Sau khi Liên-xô tan rã năm 1991, các nhà máy của bạn không đủ khả năng mua vé cho anh em Việt Nam về nước theo hiệp định. Các nước cộng hòa mới tách khỏi Liên bang Xô Viết nên tình hình chính trị, kinh tế, xã hội không ổn định, nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra hàng ngày đối với người Việt Nam tại đây. Trước tình hình đó Hội Đồng Hương Việt Nam tỉnh Kharkov ra đời vào tháng 4 năm 1994 do ông Đinh Văn Nết (còn có tên gọi khác là Đinh Văn Nhời) làm chủ tịch. Sau đó một thời gian thì có một tổ chức khác mang tên là Hội Hữu Nghị Việt Nam – Ukraina về văn hóa và thương mại do ông Phạm Nhật Vượng làm chủ tịch. Hai tổ chức này đều xây dựng chợ của mình tại trung tâm thương mại Barabasôva, thành phố Kharkov. Vào tháng 4 năm 1998, ông Đại Sứ Đòan Đức và ông Tham tán công sứ Bùi Đình Dĩnh đã ép hai tổ chức này ngừng họat động và thành lập một tổ chức mới mang tên là: Hội người Việt Nam tỉnh Kharkov do ông Lê Viết Lam làm chủ tịch. Sau một thời gian họat động, Hội có nhiều biểu hiện của một tổ chức xã hội đen, đặc biệt rõ hơn sau khi đại hội lần thứ hai, ông Lam rút khỏi chức vụ chủ tịch Hội mà chỉ nhận là chủ tịch “danh dự” để tránh sự chú ý của cơ quan nội vụ địa phương, nhưng thực chất mọi quyền hành đều trong tay ông Lam như việc quản lý chợ, quản lý Hội đều biểu hiện vi phạm nghiêm trọng luật pháp của bạn và của Nhà nước ta như sau :
Hội Người Việt Nam là một tổ chức xã hội nhưng họat động như một tổ chức chính quyền và như một cơ quan hành pháp của người Việt Nam tại thành phố Kharkov. Tất cả người Việt Nam buôn bán tại trung tâm thương mại dưới quyền quản lý của ông Lam đều bắt buộc phải là hội viên, và phải nộp tiền hội phí 50 grivna một tháng (tương đương 10$). Theo số liệu của Hội thường xuyên có khỏang 3100 hội viên. Vậy tổng số tiền hội phí là 31.000$/tháng. Số tiền này được chuyển vào quỹ “Ngôi sao phương đông” có tài khoản 25855565 ở ngân hàng Merkuri thành phố Kharkov, số tiền này được cán bộ Hội tuyên bố “làm từ thiện, làm ngọai giao”, nhưng không một ai được biết số tiền này được chuyển đi đâu, cho ai ngay cả chủ tịch Hội đương nhiệm. Mỗi khi Hội cần tiền thì ban lãnh đạo Hội lại ra quyết định bắt buộc bà con nộp tiền, như đầu năm 2005 mỗi người Việt Nam phải nộp thêm 200grivna tiền Ukraina (tương đương 40$) số tiền thu được đợt này là : 3100 x 40$ = 124.000$. Ngoài ra các ông trong ban lãnh đạo Hội còn thành lập “Ban hòa giải và chống tệ nạn xã hội” do ông Lê Minh Đức (còn có tên khác là Lê Minh Hiếu, quê Nam Định theo nhiều nguồn tin Hiếu là tội phạm trốn từ trong nước sang), Trần Minh Sơn, Phạm Xuân Thu phụ trách, các ông trong ban này đóng vai trò như “công an, viện kiểm sát, tòa án” để sử phạt và tống tiền bà con, nếu ai không nộp những khỏan tiền mà Hội bắt buộc thì các ông ấy sẽ không cho buôn bán và gây nhiều phiền hà, cho người địa phương đi kiểm tra bắt phạt đến khi nào nộp đủ tiền với điều kiện “bà con viết giấy là tự nộp tiền” thì mới được yên và lúc đó mới được phép bán hàng .
Tháng 12 năm 2004 Hội phát động đợt quyên góp tiền ủng hộ người nghèo trong nước. Mõi hội viện phải nộp 10$ (số tiền thu được là 31000$) cho đến nay số tiền này vẫn không được chuyển về nước theo đúng tinh thần của đợt phát động.
Ban Hòa giải của Hội họat động đúng như một nhóm xã hội đen. Tháng 3 năm 2000 chị Hoàng Thị Thủy sống tại ký túc xá số 6 đường phố Grribandi thành phố Kharkov có nhặt được gói tiền sau đó chị Thủy có trả lại cho người mất. Ban Hòa giải không những không biểu dương mà còn vu cho chị Thủy ăn cắp, tống tiền chị Thủy và cuối cùng dẫn đến cái chết thương tâm của người con gái vô tội này (có bức thư tuyệt mệnh kèm theo). Người mà chị Thủy nhắc đến trong bức thư tuyệt mệnh có tên Trường đây là anh Đặng Minh Trường – cộng tác đắc lực của Lê Viết Lam.
2- Khu chợ do ông Lam quản lý có đặc thù như sau:
Ông Lam thỏa thuận với tập đoàn “Avek” được làm trung gian thuê đất của Tập Đoàn để đặt côngtainơ cho người Việt Nam. Nhưng thực tế ai muốn có chỗ bán hàng thì bắt buộc phải mua. Nhưng sự mua bán chỉ được thực hiện bằng lời nói chứ không có bất kỳ thứ giấy tờ nào được chứng tỏ là có sự mua bán.
Lợi dụng sự kém hiểu biết về luật pháp, ngôn ngữ của cộng đồng ta ở đây, ông Lam đã bán được khỏang 10.000 côngtainer và chỗ bán hàng thu lợi bất chính ít nhất 10 triệu$. Đến đầu năm 2002 Tập Đoàn Avek phát hiện ông Lam và những cộng sự của ông đã gian lận của họ khỏang 5 triệu $ (năm triệu $). Họ bắt buộc các ông phải hòan lại số tiền đã biển thủ. Để có được số tiền này ông Lam đã kết hợp với người địa phương bày ra trò cổ phần hóa khu chợ mà các ông thuê. Như vậy cộng đồng người Việt ở đây phải mua lại lần thứ 2 chỗ bán hàng của mình đi thuê.
3 – Đối với công ty “Hữu Nghị”:
Công ty “Hữu Nghị” là một công ty hoạt động độc lập, đã ký hợp đồng số 41 ngày 28 tháng 7 năm 1995 với Tập Đoàn Avek thuê một mảnh đất 2000 mét vuông để làm chợ bán hàng và ký hợp đồng 1/97 ngày 18 tháng 03 năm 1997 cho tập đoàn Avek vay 370.000 grivna (tương đương 200.000$) để có quyền sử dụng 4000 mét vuông đất trong 10 năm đặt côngtainơ chứa và bán hàng. Công ty “Hữu nghị” và công ty Akôta cùng đặt được 216 côngtainơ. Sau khi họat động được một thời gian ngắn thi ông Đinh Văn Nhời cùng ông Lê Viết Lam ký biên bản thỏa thuận chuyển 100 (một trăm) công thuộc quyền quản lý của tập đoàn VINACO do ông Lam làm giám đốc với điều kiện như: sau khi trừ tòan bộ chi phí còn lãi xuất sẽ chia đôi (có biên bản thỏa thuận kèm theo). Mặc dù đã thỏa thuận như vậy, nhưng ông Lam đã không thực hiện đúng bản cam kết mà chỉ chuyển số tiền lãi cho chúng tôi có 1 tháng (tháng 6 năm 2007) với số tiền là 1.500$ (một ngàn năm trăm đôla Mỹ). Từ đó cho đến nay ông Lam cố tình không trả. Khu vực này công ty của ông Lam thu mỗi công là 350$ một tháng. Nhưng chúng tôi tính ít nhất từ tháng 7 năm 1997 đến tháng 6 năm 2005 là 95 tháng (chín mươi lăm tháng). Như vậy ông Lam đã biển thủ số tiền lãi của chúng tôi như sau : 95tháng x 1.500$ = 142.500$
Đầu năm 2000 ông Lê Viết Lam đã thỏa thuận cùng với chủ chợ lại cướp tiếp của chúng tôi 116 côngtainơ (tương đương 2000 mét vuông đất) mà chúng tôi đã trả tiền thuê đất cho tập đòan Avek từ tháng 3 năm 1997 và giao cho ông Võ Minh Phúc và ông La Văn Thứ quản lý.
Tháng 6 năm 2002 cán bộ công nhân viên công ty “Hữu nghị” lại phải bỏ một khoản tiền 410.500 grivna (tương đương 85.000$) để mua 893 cổ phiếu của tập đòan Avek với mục đích được quản lý tiếp khu chợ mà công ty “Hữu nghị” vẫn quản lý theo hợp đồng ủy thác số 1 và số 2 đã ký với tập đòan Avek ngày 30 tháng 12 năm 1998 (thực chất đây là số tiền ông Lam đã bắt chúng tôi phải trả nợ thay cho ông ấy). Nhưng từ tháng 12 năm 2003 đến nay, ông Lam tìm đủ mọi cách để chiếm đọat tài sản riêng của chúng tôi. Ví dụ như cuộc gặp mặt chiều ngày 24 tháng 11 năm 2003 tại khách sạn Thăng Long ở thành phố Kharkov với lãnh đạo công ty “Hữu nghị” phải nộp thêm cho ông một khỏan tiền vô lý là 10.000$ hàng tháng. Mặc dù công ty “Hữu nghị” là chủ hợp đồng với tập đòan Avek không có liên quan gì với ông Lam và Hội. Ông Lam tuyên bố: nếu không nộp thì công ty “Hữu nghị” sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Lãnh đạo công ty “Hữu nghị” từ tháng 7 năm 2004 đến nay ông Lam và những người cộng sự với ông đã chiếm đọat xong tài sản riêng của chúng tôi làm tòan bộ 25 cán bộ công nhân viên của công ty không có công ăn việc làm.
Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về tổ chức của người Việt Nam tại thành phó Kharkov, nhóm này núp dưới tổ chức xã hội nhưng thực chất thì họat động như một băng nhóm xã hội đen, họ có tổ chức khá tinh vi nhằm lừa đảo, chiếm đọat một số lượng lớn tiền và tài sản của cộng đồng đến hàng chục triệu đôla.
Chúng tôi tha thiết kính mong Ban lãnh đạo Bộ quan tâm xem xét, cử đòan cán bộ sang tìm hiểu và có biện pháp nghiêm trị những kẻ vi phạm pháp luật của Ta và Bạn.
 
Sáng thứ năm ngày 27-01-2005 tại nơi làm việc của công ty “Hữu nghị” (bốt bê-tông) thuộc khu vực chợ của Hội đồng hương có cuộc gặp mặt gồm :
1) Lãnh đạo công ty Hữu nghị :
– Nguyễn Văn Ngoáy – chủ tịch Hội .
– Phạm Xuân Thu – ủy viên ban chấp hành Hội.
– Trần Hưng – ủy viên ban chấp hành Hội.
– Phạm Quang Minh – nguyên là nhân viên công ty “Hữu nghị”.
– Dinh Văn Hào – nguyên là nhân viên công ty “Hữu nghị”.
Nhóm người của Hội muốn bảo vệ những người vi phạm pháp luật của bạn tại trung tâm thương mại Barabasôva và tuyên bố rằng : nếu những người trên (có tên trong danh sách mà ông luật sư của công ty Hữu Nghị đã biết) nếu bị công an hoặc cơ quan pháp luật của bạn bắt giữ thì ông Đinh Văn Nhời và ông Trần Văn Quyền phó giám đốc công ty sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn .
Ông Phạm Xuân Thu tuyên bố : dùng xã hội đen để giết ông Quyền với giá 1000 USD trước mặt những người có tên trên đây.
Vậy tôi mong những ông có tên trên đây sẽ làm chứng cho tôi , nếu tính mạng tôi có điều gì xảy ra không tốt.
Kharkov ngày 29-01-2005
 
Người Mỹ gốc Việt khắp nơi đang rúng động trước tin của tờ The Atlantic rằng chính phủ Trump lại một lần nữa muốn trục xuất những người Việt tị nạn vốn là nạn nhân, hay là người lính từng tham chiến cuộc chiến Việt Nam, ra khỏi Hoa Kỳ.Campuchia sẽ tiếp tục tiến hành chính sách thu hồi giấy tờ của 70.000 người gốc Việt đang sinh sống tại Campuchia, nói giấy tờ quyền công dân của họ là "không đúng quy định," tờ Phnom Penh Post đưa tin.Khoảng 8.500 người Việt tại Hoa Kỳ có thể bị bắt, giam giữ và trục xuất về Việt Nam, các tổ chức hoạt động vì cộng đồng tại Hoa Kỳ cho biết. Chính phủ Anh trục xuất người Việt bị bán sang làm nô lệ, Giam giữ thay vì hỗ trợ, Trẻ em Việt được giải cứu lại bỏ trốn. Ám ảnh "bị trục xuất" trong số 2,1 triệu người Mỹ gốc Việt
Thu nhập trung bình của 2,1 triệu người Mỹ gốc Việt cao hơn người Mỹ bản địa và họ sở hữu hơn 310.000 công ty. Tuy nhiên, hàng ngàn người trong số này nguy cơ bị chính quyền Tổng thống Trump trục xuất.
 
Bên trên